25/04/2026
KỶ NIỆM 1088 NĂM TRẬN BẠCH ĐẰNG LẦN THỨ NHẤT
Viết nhân ngày 8/3 Âm lịch - Chính lễ trận Bạch Đằng
Nước Việt bắt đầu có từ bao giờ ?
Đó là câu hỏi mà chắc hẳn nhiều người đã từng băn khoăn.
Theo chính sử, nước ta thời Hùng Vương được gọi là Văn Lang. Đời vua Thục An Dương Vương (257-207 TCN) thì gọi là Âu Lạc. Khi Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc năm 179 trước Công nguyên, đó là khởi đầu của giai đoạn Bắc thuộc lần thứ nhất. Thời kỳ này kéo dài đến năm 40 với cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.
Năm 43, Mã Viện đàn áp cuộc khởi nghĩa này. Bắc thuộc lần 2 kéo dài đến năm 541 với cuộc khởi nghĩa của Lý Bí lập ra nước Vạn Xuân. Ba thế kỷ tiếp theo, nhà Tuỳ và Nhà Đường lần lượt đô hộ nước ta tới tận năm 905, Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ. Và đến năm 938, chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất của Ngô Quyền đã chấm dứt hoàn toàn ách cai trị của phương Bắc. Đinh Bộ Lĩnh đã kết thúc loạn 12 sứ quân để mở ra kỷ nguyên mới, với nền độc lập lâu dài của nước Việt Nam ta.
Vậy có thể nói, chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là một trong những sự kiện có tầm vóc quan trọng bậc nhất đối với lịch sử Việt Nam. Trong suốt 1000 năm, dù bị chính sách cai trị hà khắc: sưu cao thuế nặng, bắt di dân, đồng hoá văn hoá nhằm biến nước ta thành một quận của Trung Nguyên, người Việt vẫn kiên cường giữ vững phong tục tập quán, giữ bản sắc riêng, tiếng nói riêng để chờ thời cơ nổi dậy khởi nghĩa giành độc lập về tay.
1. Bối cảnh trận thuỷ chiến
Năm Đinh Mão 907, nhà Đường bên Trung Hoa bị mất ngôi. Trước đó, loạn lạc cướp bóc nổi lên khắp nơi. Triều đình ở trung ương không còn đủ mạnh để quản được các nước chư hầu dẫn tới cảnh ai có thế lực mạnh thì tự xưng vương. Ở quận Giao Chỉ, có vị tên Khúc Thừa Dụ là phú hào trong xứ Ninh Giang Hải Dương ngày nay được nhiều người tín phục. Năm bính dần (906) nhân cớ có loạn, phương Bắc cử ông lên làm Tĩnh Hải Tiết độ sứ để cai quản đất Giao Chỉ. Năm sau nhà Đường kết thúc, Khúc Thừa Dụ mất, truyền ngôi lại cho con là Khúc Hạo.
Khúc Hạo nắm quyền, lập ra phủ, lộ, châu, xã ở các nơi, đặt quan lại, sửa sang thuế má, cho con là Khúc Thừa Mĩ đi sứ Quảng Châu dò la nội tình bên Tàu. Cai trị đất Quảng Châu là Lưu Ẩn, có em trai là Lưu Cung, khi anh mất thì tự xưng đế là vua Nam Hán. Khúc Thừa Mĩ không thần phục nhà Nam Hán, do đó năm 923 Cung sai tướng đem quân sang đánh, bắt được Mĩ rồi cho người khác làm quan trấn giữ đất này.
Năm 931, cựu tướng của Khúc Hạo là Dương Diên Nghệ mộ quân đánh đuổi chính quyền do vua Nam Hán sắp đặt. Ông tự xưng là Tiết độ sứ, cầm quyền được 6 năm thì bị nha tướng là Kiều Công Tiễn ám sát, cướp lấy binh quyền.
Có tướng cũ của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền, người quê ở làng Đường Lâm Sơn Tây dấy binh đánh để báo thù cho chúa. Kiều Công Tiễn sang cầu cứu nhà Nam Hán. Thái tử Hoàng Tháo dẫn thuỷ quân đi trước, vua Nam Hán dẫn quân đi sau.
Tháng 10 âm lịch, năm mậu tuất 938.
Thuỷ quân của Tháo vào gần đến sông Bạch Đằng thì ở Giao Chỉ, Ngô Quyền đã bắt - giết được Công Tiễn. Ông cho người làm cọc gỗ từ thân cây lớn bọc sắt nhọn ở đầu, cắm thành bãi cọc ngầm ở các vị trí hiểm yếu có biên độ con nước lên xuống lớn dưới lòng sông. Chờ lúc thuỷ triều lên, thì cho quân với thuyền nhỏ cơ động ra khiêu chiến xong giả vờ rút lui. Chiến thuyền của quân Nam Hán đuổi theo, lúc nước xuống, Ngô Quyền cho quân phục binh ra đánh ập lại. Quân Hán chạy, thuyền va vào cọc cái thủng cái mắc cạn nghiêng ngả. Hoàng Tháo bị bắt, quân thuỷ bị diệt quá nửa. Vua Nam Hán nghe tin con trai tử trận thì kêu khóc rồi đem quân về, từ đó không dám mưu đồ bình định phía nam nữa.
Ngô Quyền trong thì dẹp nội phản, giết được nghịch tặc báo thù cho chủ, ngoài thì phá được cường địch bảo toàn cho nước, thật xứng danh anh hùng thiên cổ. Cái gông ách Bắc thuộc một nghìn năm xiềng xích đã bị con người trung nghĩa này chém một nhát đứt làm đôi, mở đường cho Đinh, Lý, Trần, Lê sau này tự chủ hoàn toàn bờ cõi nước Nam.
Đó là trận thuỷ chiến lần thứ nhất trên sông Bạch Đằng, làm nền móng dựng nên nước Đại Việt của vua Đinh, mở đầu cho kỷ nguyên độc lập. Kế thừa truyền thống chống xâm lược, sứ mạng giữ nước là trận Bạch Đằng lần 2 do vua Lê Hoàn lãnh đạo, đánh tan quân Tống xâm lược năm 981. Và lần thứ ba cũng tại dòng sông huyền thoại này, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã chỉ huy quân và dân đánh bại quân Nguyên Mông là đạo quân hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ. Trận đánh này đã tác động không nhỏ tới dã tâm chinh phạt thống trị toàn lục địa Á – Âu của nhà Nguyên. Từ đó, hệ quả của nó tác động rất lớn đến lịch sử châu Âu về sau. Ngay cả Trung Hoa cũng bị nhà Nguyên đô hộ 70 năm, đây là triều đại ngoại tộc đầu tiên chiếm quyền cai trị nước này.
2. Lý luận về địa lý đặc thù của nước Việt.
2a. Địa thế của Trung Hoa và hệ quả.
Nhìn về phương Bắc, chúng ta thấy Trung Nguyên đại lục là một bình địa lớn nằm ở vùng trung và hạ lưu sông Hoàng Hà. Đây là vùng đất bằng phẳng, màu mỡ thuận lợi cho nông nghiệp trồng lúa gạo nhất là canh tác lúa nước. Khi được mùa, dư thừa lương thực tạo điều kiện cho trao đổi buôn bán thương mại với những sản phẩm khác, tạo nên một nền nội thương và cả ngoại thương sầm uất. Mặt khác, dư thừa tích trữ lúa gạo tức người ta có thể không phải lo về cái ăn trong một khoảng thời gian nhất định, lúc hạn hán thiên tai hay địch hoạ, từ đó thúc đẩy thời gian cho nghiên cứu sáng tạo ra cái mới, đồng thời đẩy mạnh sự học tập tri thức tức lao động trí óc. Điều này cũng dẫn tới một nền hành chính có bề dày lịch sử lâu đời, bộ máy cai trị quan liêu mang tính bền vững và kế tục tiếp nối truyền thống, với một chính quyền lớn ở Trung Ương, và các chư hầu ở địa phương.
Sau một thời kỳ chiến loạn kéo dài để xác lập quyền lực bằng các hoạt động vũ trang trên chiến trường, học thuyết Khổng giáo với Tam cương, ngũ thường được ưu ái sử dụng bắt đầu từ thời Tây Hán. Nó trói buộc quyền và lợi ích của kẻ sĩ – những người muốn phấn đấu làm quan và làm bậc “quân tử”, với quyền lợi của giai cấp thống trị. Sự trung thành với chế độ của giới trí thức quan văn sẽ là nền tảng của công quyền, là cơ sở để một vương triều kéo dài dưới sự lãnh đạo thế tập của những bậc quân chủ kế thừa huyết thống của vị vua lập quốc.
Do tự coi mình là Thiên Tử (con Trời), các hoàng đế Trung Hoa thường coi các nước lân bang là chư hầu phiên thuộc. Lãnh đạo các nước quanh nước Tàu thời phong kiến thường phải để đích thân Vương, hoặc cử sứ thần sang nhận chiếu chỉ, sắc phong, nông lịch để đảm bảo tính “chính danh” về quyền lực lãnh đạo, sự bảo hộ của Hoàng đế. Đồng thời, để có qua có lại, các nước nhỏ cũng phải Triều cống, tức nạp những vật quý giá, sản vật đặc hữu hoặc nhân lực sang Trung Hoa phục vụ. Trong quá khứ, thời kỳ hoà bình ở các nước nhỏ thường kéo dài cho đến khi Trung Nguyên thay đổi triều đại, hoặc bộ máy trở nên quá cồng kềnh lại hà khắc, không còn gắn với quyền lợi của số đông dân chúng.
Có thể thấy, đồng bằng Trung Hoa đại lục là căn cơ để tạo nên một chế độ quản lý xã hội với những đặc tính như: ổn định, bền vững, đề cao sự uy tín, trách nhiệm và trung hậu. Có thể thấy đây chính là hình tượng của một ngọn đồi đất khô dày rất vững chãi, lâu bền không suy chuyển cả trăm năm, nghìn năm. Và núi thì thường có các mỏ kim loại sinh ra trong đó, như một chế độ thì phải có thiết chế, ban hành luật gốc và các luật pháp chi tiết để người sống trong chính thể đó tuân theo và thực thi. Không có luật thì người ta không thể biết cách hành xử sao cho đúng trong các trường hợp cụ thể, để đảm bảo quyền, lợi ích và nghĩa vụ của mình đối với những người khác, và đối với cái chung tức xã hội. Tuy nhiên, khi luật gốc quá xa văn hoá nội sinh gốc, và các bộ luật bên dưới quá xa tập tính dân tộc, nó sẽ dẫn tới sự kém hiệu quả về thực thi, xa rời thực tế, tách rời quần chúng nhân dân, quá cứng nhắc và máy móc theo hướng cực đoan của trường phái Pháp Trị. Hệ quả là đề cao quá mức thủ tục hành chính, giấy tờ, gây phiền hà và kém hiệu quả, giảm năng suất lao động xã hội.
Trong hai nghìn năm qua, sức ảnh hưởng của quyền lực, văn hoá và kinh tế từ Trung Hoa tới các nước lân bang đồng văn đồng chủng là không thể phủ nhận. Với những dân tộc không có văn hoá nội sinh gốc, tôn giáo tín ngưỡng bản địa phân rã, tính sáng tạo yếu kém, thiếu tiếng nói chữ viết riêng, phong tục tập quán đặc thù thì copy mô hình từ Trung Nguyên về, modify cải biên một chút và áp vào luôn là quy trình vận hành đã rất phổ biến. Điều này thường dẫn tới nhanh chóng thiết lập trật tự xã hội cho nhà quản lý mới, không mất thời gian công sức đào sâu nghiên cứu, nhưng thường gây nên sự kém hiệu suất về sau. Cũng như câu chuyện một chiếc máy tính DELL đồng bộ hoàn toàn từ phần cứng đến phần mềm đặc chế sẽ cho hiệu suất công tác và độ bền tốt hơn một chiếc máy ráp từ các linh kiện cấu phần của các hãng khác nhau, năm cha ba mẹ.
Ngay tại Trung Hoa, nơi tập trung quyền lực về trung ương tuyệt đối, lịch sử thời phong kiến của họ cũng là những vòng lặp vô tận: xã hội hà khắc, thi cử gian lận nhằm đặc cách ưu ái các sĩ tử đặc biệt, thị trường mua bán chức tước sôi động, tham quan vơ vét giàu ngang quốc khố như Thạch Sùng, Lưu Cẩn, Hoà Thân, các đại gian thần khét tiếng tàn hại trung lương như Tần Cối, Đổng Trác, Nguỵ Trung Hiền… khiến hiền tài trung thần từ quan về… dạy học - làm ruộng, để bảo thân giữ mệnh khỏi quyền mưu quan trường. Lợi dụng quyền lực công để làm giàu là một chiêu phổ biến, không chỉ thời xưa ở Tàu mà thời nào và ở đâu thì cũng thế. Nên đã từng có một cuốn sách khá hay và nổi tiếng là “Tư bản thân hữu Trung Quốc” do giáo sư Minxin Pei viết, xuất bản tại Việt Nam năm 2018. Tất nhiên, lỗi chả hẳn là do “cơ chế”, mà tập tính người phương Đông luôn là vậy: nếu là đối diện con người với nhau, chưa chắc ai đã sợ ai. Nhưng trước công quyền, ai cũng phải cẩn thận…
Và như trong lịch sử Trung Quốc, các hoàng thân quốc thích bao giờ cũng bám vào uy quyền của Vua để được hành động tự do nơi mà họ quản lý, đôi khi là quá giới hạn nên người Tàu luôn mong ước có một Bao Công mặt sắt, thiết diện vô tư để đòi lại công bằng cho họ. Các cuộc khởi nghĩa nông dân ở Trung Quốc gây cảnh loạn li kéo dài thường nổ ra khi dân quá đói tới mức bần cùng, tầng lớp quý tộc đặc quyền đặc lợi nhũng nhiễu, sưu cao thuế nặng quá mức để tài trợ cho những thứ hoành tráng nhưng phù phiếm như Cung điện nguy nga, hay lối sống xa xỉ của các Vương Phi tuyệt sắc khuynh thành. Người Tàu có câu: Trường Giang sóng sau đè sóng trước, há chẳng phải chỉ nói mỗi chuyện anh tài? Vậy tưởng như các bộ não quân cơ cao siêu nhất đã kiến thiết ra cơ chế vững chắc như ngọn núi, nhưng sự cứng nhắc đầy cầu toàn chi tiết ấy cuối cùng lại như con rắn cuộn tròn rồi ăn cái đuôi của chính nó? Núi sinh ra mỏ quặng sắt, nhưng ở khu mỏ sắt thì làm gì có cây sống được?
2b. Việt Nam
Trở lại Việt Nam, chúng ta xưa là một vùng đất thoải dần ra biển được núi hiểm trở vây hầu hết các mặt, chỉ còn phía vịnh Bắc Bộ là nơi giải phóng xung năng dân tộc. Đây được coi là vùng “lam sơn chướng khí”, đầm lầy cỏ lau xen kẽ núi đá vôi chằng chịt. Rừng thiêng, nước độc, ẩm thấp, sương mù và khí độc bốc lên ngột ngạt khiến người ngoại bang khi đến thường khó mà trụ được lâu dài vì sinh bệnh tật nhiệt đới, bị thú dữ côn trùng độc và mưa bão dữ dội hàng năm tấn công. Những người ở lại được miền bắc và miền trung Việt Nam là hậu duệ của những tổ tiên kiên cường nhất trong lịch sử loài người. Dù tài nguyên chất đốt và cái ăn từ rừng biển không thiếu trong ngắn hạn, nhưng điều kiện sống và phát triển dài hạn không hề dễ dàng.
Với mô hình quản lý xã hội, trong quá khứ dù từng chịu ách đô hộ bắc thuộc trong những quãng thời gian dài xen kẽ nên sự ảnh hưởng từ Trung Hoa là ít nhiều. Ảnh hưởng này kém đi từ thời nhà Nguyễn khi kinh đô không còn ở trung tâm đồng bằng bắc bộ, mà dời về miền Trung trong 143 năm. Hơn 100 năm từ 1862 – 1975, phía dưới đèo Ngang - dãy Hoành Sơn là ảnh hưởng của thuộc địa Pháp, và rồi là sự đổ bộ văn hoá kinh tế của người Mỹ trong hai thập niên.
Tại miền Bắc, tính đến năm 2026, mới là 72 năm giải phóng Thủ đô Hà Nội, vừa đủ một đời người. Các con số thống kê tuy khô khan, nhưng thường là nó không biết nói dối. Tàu đến – Tây đi như cảnh tít mù lại vòng quanh, đi đâu cho đời mỏi mệt như lời Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ?
Vì đặc thù địa lý, địa chính trị mang tính chiến lược toàn cầu, lịch sử pha trộn bởi văn hoá và khí hậu dữ dội như vậy, định chế của xã hội ta sẽ khác biệt khá nhiều so với phương Bắc. Chúng ta vẫn có sự vững chắc của thổ, nhưng chỉ là cố định mang tính “cứng” ở đồng bằng sông Hồng. Phương Đông tức khu 3 – Đông Bắc chịu ảnh hưởng của mộc, phương Nam tức khu 7 và khu 9 sẽ chịu ảnh hưởng bởi tính hoả rất nhiều, và chung lại:
Vì là đất nước trải dài giáp biển, tính thuỷ tức sự linh động không cứng nhắc về mọi thứ sẽ rất cao. Đó là lý do những trận thuỷ chiến và Hải quân luôn có tầm ảnh hưởng cực kỳ trọng yếu đối với lịch sử nước Việt Nam. Thuỷ là sự tự do, linh hoạt, là mưu trí và ngầm ẩn lắng đọng. Thổ lúc nào cũng muốn đi khống chế thuỷ, nhưng trong dài hạn là bất khả thi. Thông thường, thổ có thể khắc thuỷ như trộn bùn vào đất tạo nên cảnh nước đục béo cò, nhưng khi thuỷ mạnh lên, thì đê điều tan rã, núi lở đất vỡ…. Đó là điều mà thổ e ngại nhất.
3. Cứng nhắc hay linh hoạt?
Có thể thấy: một dân tộc đến từ nơi họ chọn làm vùng đất sinh sống. Khí hậu, thức ăn, nước uống, văn hoá, lịch sử, giáo dục và chủng tộc sẽ tạo nên tập tính mã gen đặc thù.
Ví dụ như nước Đức, một quốc gia phương Tây rất cứng nhắc, với những nhà triết học biện chứng, triết học duy tâm – phân tâm, phê phán lý tính có những câu nói và tác phẩm nghị luận hết sức hùng hồn, cứng rắn tới mức cực đoan. Giống như thanh kiếm hay tiếng chuông đồng, sắc bén chói loá và ngân vang hùng tráng dễ làm người đối diện bị “át vía”, nhưng người phương Đông đọc nó thì như đàn gảy tai trâu vậy. Tuy nhiên, lý chung luôn là cứng quá thì gãy. Chính xác và chuẩn mực tạo nên những đô thành quy hoạch vuông vắn ô bàn cờ, những nhà máy công nghiệp nặng được tổ chức xuất sắc, thành tích vật chất tăng trưởng kinh tế thần kỳ, những thiết chế xã hội làm ra làm chơi ra chơi, và hầu hết là làm việc không ngơi nghỉ. Nhưng phát triển tới hết dư địa luôn là sự thiếu hụt tài nguyên và thị trường dẫn tới khủng hoảng. Để giữ ổn định xã hội, họ phải tìm ra nguồn lực mới, nơi tiêu thụ mới hoặc mô hình tăng trưởng mới dựa trên đổi mới công nghệ kỹ thuật. Và đó là khởi nguồn của các cuộc đại thế chiến trong vòng 100 năm trở lại đây.
Phương Tây, vì chịu ảnh hưởng của hành kim, rõ ràng là họ rất cứng, và luôn cứng tới mức cực đoan. Nước Nga với quốc huy con đại bàng hai đầu thì thường là tính hoả nóng như ngọn lửa hồng phương Đông, nhưng lúc nó quay đầu về phía Tây thì cũng cứng rắn vô cùng. Khi nhắc đến phương Tây, người ta thường nói về tư duy lý tính và phương Đông là cảm tính. Tuy nhiên dù ở đâu thì con người đều là các sinh vật bậc cao biết tư duy, các thực thể sống, tức có tình cảm và cảm xúc. Ngay cả ở phương Tây, một số dân tộc cũng không đề cao lý tính như vùng nam Mỹ. Ở phương Đông, một số dân tộc lại có tính duy lý, đề cao sự logic đúng sai, nghiêm túc và trách nhiệm cao như Nhật và Hàn. Còn lại, nhiều dân tộc ở Đông Nam châu Á thì thường duy tình, đề cao sự thoải mái không có ràng buộc, hay còn gọi là cảm tính, vô sư vô sách, thích thì làm mà không thích thì nghỉ. Lý và tình là hai thái cực đối chọi, như mâu và thuẫn trong cặp phạm trù mâu thuẫn.
Về lục địa Trung Hoa, đó luôn là tính vững chắc cứng nhắc của mậu thổ với các toà thành lớn. Còn Việt Nam, vì chịu ảnh hưởng của sông ngòi, ao hồ và cạnh vịnh biển nên không thể thoát ly được tính thuỷ. Nước thì luôn linh hoạt, chảy về nơi thấp, nhẹ nhàng, ôn hoà, tĩnh lặng, tinh tế nhưng dễ bị cảm xúc chi phối, dễ thay đổi và nhạy cảm quá mức.
Vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên:
Rõ ràng là nước luôn bốc hơi, tạo thành mưa, ngấm vào đất rồi lại chảy vào các hồ hoặc chảy ra biển. Tính lưu động và linh hoạt cố hữu khiến nó luôn di chuyển chứ không thích bị khống chế như cảnh ao tù. Thông thường, nước chảy thành dòng từ tây sang đông như cách “chúng thuỷ triều đông”. Nhưng địa hình Việt Nam lại là trục bắc nam kéo dài và eo hẹp ở giữa, các con sông rất ngắn và dốc, nên người Việt phải chăng đi Đông (Nhật - Đài Loan) và đi Tây (Âu-Mỹ) rất nhiều. Trong đời sống, tính linh động là một khái niệm xuất hiện rất nhiều lần, chứ không có sự chính xác đúng sai tuyệt đối. Người Việt luôn là vừa làm vừa chơi, làm và nghỉ ngơi xen kẽ chứ không thích quy mô công nghiệp với lịch trình cố định, để bằng mọi giá phải đạt được một mục tiêu nào đó. Sự cứng nhắc, rõ ràng luôn là một khái niệm xa lạ với chúng ta.
Thuỷ chính là sự linh hoạt, tuỳ cơ ứng biến, như tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến”, là hình tượng cha Lạc Long Quân (Long Vương) đem con xuống biển, hay Mẫu Đệ Tam Thoải phủ cai quản miền sông nước. Và câu nói nhận định nổi tiếng của Nguyễn Trãi khi xưa:
“Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như nước”
Chính là một bài học muôn đời đối với hậu thế, để nhắc nhở về tính chất đặc thù của người Việt sau quá trình dài chiêm nghiệm. Đó cũng là cội nguồn của tư tưởng “lấy dân làm gốc” mà các vị Vua phương Đông khi xưa, cũng như Hồ chủ tịch đã từng lấy làm phương châm hành động cho tới tận ngày nay.
Trong Vu Cong
Tháng 4 – 2026
Nguồn chính:
* Lịch sử thế giới cổ đại, mục Trung Quốc – NXB Giáo dục
* Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim – NXB Kim Đồng 2017
* Đại Việt Sử Ký toàn thư – NXB KHXH 2004
* Confucianism – a very short introduction, Oxford University Press 2014 (“Dẫn luận ngắn về Nho giáo”, Daniel K. Gardner, bản Việt dịch của NXB Hồng Đức 2016)