08/10/2026
Ai làm nhà ở Việt Nam vài năm nay hẳn đã gặp, hoặc sớm muộn sẽ gặp, một buổi làm việc mà người khách mở điện thoại, đưa ra tấm phối cảnh do AI dựng trong chưa đầy một phút, rồi hỏi một câu hoàn toàn hợp lý theo cách nhìn của họ, rằng nếu hình đã có sẵn thì phí thiết kế nên còn lại bao nhiêu. Câu hỏi ấy hay đi kèm một đề nghị cũng quen thuộc không kém, giữ nguyên dáng nhà trong ảnh nhưng thay đá bằng nhựa vân đá, thay gỗ bằng gỗ nhựa, và người kiến trúc sư, dù biết có điều gì đó không ổn, thường lúng túng không tìm được lời đáp, bởi chính họ, trong nhiều năm, cũng đã trình bày công việc của mình chủ yếu bằng những tấm hình.
Nỗi lo máy móc làm thay người tạo ra cái đẹp không phải chuyện mới. Nhà nghiên cứu Soetsu Yanagi viết những ghi chép về đồ thủ công dân gian Nhật Bản đúng vào những thập niên đầu thế kỷ hai mươi, khi xưởng máy đang thay dần bàn tay người thợ gốm, thợ dệt, và điều tụi mình chú ý khi đọc lại ông không phải là nỗi tiếc nuối, mà là chỗ ông đặt giá trị của một món đồ, không ở hình dáng, mà ở những người cùng làm ra nó: "Sự hợp tác luôn tạo ra những thành quả vượt xa những gì một người có thể tự mình làm được" [1].
Có lẽ sự lúng túng ấy bắt nguồn từ một hiểu lầm có từ rất lâu, mà cả người đi thuê thiết kế lẫn người làm nghề đều gặp phải, rằng sản phẩm của kiến trúc sư là cái hình của ngôi nhà, từ những bản vẽ màu nước ngày trước cho tới tấm phối cảnh 3D hôm nay. Trong khi phía sau một tấm phối cảnh là cả một khối việc mà người ngoài nghề hiếm khi nhìn thấy, từ chuyện xếp các phòng theo đúng nếp sinh hoạt của từng người trong nhà, xoay ô cửa để tránh nắng chiều và đón gió, tính nhịp dầm sao cho đủ chắc mà không tốn thép, cấu tạo một mép mái hay một bậu cửa sổ để nước mưa không thấm vào tường, chọn vật liệu hợp với khí hậu và túi tiền, cho tới bóc khối lượng, làm hồ sơ xin phép, ngồi lại với kỹ sư kết cấu, điện nước và với chính những người thợ sẽ dựng nó lên.
Những việc ấy có giá trị vì chúng quyết định ngôi nhà sẽ được sống ra sao trong vài chục năm, và vì sai ở đó thì rất đắt để sửa. Một tấm phối cảnh không ưng có thể dựng lại trong mười giây, nhưng một mái nhà thấm dột, một phòng ngủ hứng trọn nắng chiều hay một cây cột đặt sai chỗ thì người ở phải mang theo nhiều năm. Nghĩ theo cách đó, AI có lẽ không lấy đi giá trị của nghề mà đang làm một việc ngược lại, khi làm thay phần dễ thấy nhất, nó gỡ đi lớp vỏ đã che khuất phần công việc thật sự đáng giá suốt bao lâu nay, và buộc cả người làm nghề lẫn khách hàng phải nhìn vào phần còn lại.
Tâm lý học có thể giúp hiểu vì sao người khách trong tình huống ở đầu bài lại hỏi câu hỏi về chi phí thiết kế khi so với ai. Năm 2004, Justin Kruger và cộng sự cho người tham gia đánh giá cùng một bài thơ, cùng một bức tranh, cùng một bộ áo giáp thời trung cổ, chỉ khác nhau ở thời gian người ta được cho biết tác giả đã bỏ ra, bốn hay mười tám giờ cho bài thơ, bốn hay hai mươi sáu giờ cho bức tranh. Tác phẩm được tin là tốn nhiều công hơn được chấm cao hơn và được cho là đáng giá hơn, và hiệu ứng này mạnh hơn khi người xem khó tự đánh giá chất lượng, như khi họ chỉ được xem một tấm ảnh mờ [2]. Vài nhóm nghiên cứu khi làm lại hai thí nghiệm đầu gần đây cho kết quả không đồng nhất [3], nên tụi mình chỉ dám xem đó là một gợi ý. Nhưng một ngôi nhà chưa xây là thứ người không trong nghề rất khó đánh giá, và nếu thứ duy nhất họ nhìn thấy được là tấm phối cảnh, thì khi tấm phối cảnh chỉ còn tốn mười giây, cái giá của cả công việc cũng tụt theo trong mắt họ.
Ở chiều ngược lại, những băn khoăn mà người khách nêu ra, căn nhà hướng Tây sẽ tốn bao nhiêu tiền điện mùa hè, hệ lam kia ai sẽ lau, tấm nhựa vân đá sẽ ra sao sau vài mùa mưa, lại chính là phần việc mà tấm ảnh không làm thay được, và có lẽ cũng là phần mà người làm nghề ít khi đưa lên bàn khi trình bày phương án.
Không ít văn phòng ở mình đã bắt đầu mang mẫu vật liệu thật, bảng tính chi phí vận hành, hay những cuộc trao đổi với thợ mộc, thợ hàn vào buổi gặp khách, như một cách cho thấy phần công việc vốn nằm ngoài khung hình.
Trong ghi chép mới nhất trên trang của Giả thuyết kiến trúc, tụi mình có viết về ba bài học từ cuốn The Beauty of Everyday Things của Soetsu Yanagi, bắt đầu từ đúng một buổi gặp khách như thế ở một quán cà phê, cho đến chuyện vì sao Yanagi cho rằng chính sự "thiếu tự do" mà công năng, chất liệu và kỹ thuật áp lên công việc lại là nguồn gốc của cái hay trong thành phẩm. Bài viết đầy đủ tụi mình để ở dòng đầu tiên bên dưới.
______
[1] Soetsu Yanagi, The Beauty of Everyday Things, Michael Brase dịch sang tiếng Anh, Penguin Classics, 2018 (câu trích do tụi mình dịch từ tiếng Anh).
[2] Justin Kruger, Derrick Wirtz, Leaf Van Boven & T. William Altermatt, "The effort heuristic", Journal of Experimental Social Psychology, 40(1), 2004, tr. 91-98. doi:10.1016/S0022-1031(03)00065-9
[3] Ignazio Ziano và cộng sự, "The Effort Heuristic Revisited: Mixed Results for Replications of Kruger et al. (2004)'s Experiments 1 and 2", Collabra: Psychology, 2023. doi:10.1525/collabra.87489