Hồi Hương

Hồi Hương "I cannot teach anybody anything. I can only make them think - Tôi không thể dạy ai về bất cứ điều gì. Tôi chỉ có thể khiến họ suy nghĩ" (Socrates)

CẢM KHÁI KHI XEM “LAN ĐÌNH TẬP TỰ” - PHÚT THĂNG HOA VẠN NĂM MỘT THUỞMột chiều mưa bão, lữ khách tạm lánh phố thị ồn ào, ...
29/09/2022

CẢM KHÁI KHI XEM “LAN ĐÌNH TẬP TỰ” - PHÚT THĂNG HOA VẠN NĂM MỘT THUỞ

Một chiều mưa bão, lữ khách tạm lánh phố thị ồn ào, đất trời ủ dột, theo chân bằng hữu vốn là một tài chủ yêu văn hóa ở Lâm Gia Trang, bước vào một cửa hàng lưu niệm mới khai trương chưa đầy tháng, mà như tiến nhập vào một thời không xa lắm, cách đây 17 thế kỷ.

Có phải vì chút hương xưa lưu lại của Vương Hi Chi tiên sinh - bức thư pháp “Lan Đình Tập Tự” - được in vô cùng tinh tế trên chiếc khăn lụa choàng cổ loại thượng hạng? Hay vì những âm điệu dường như từ Thiên thượng hạ phàm của nhạc phẩm “Lan Đình Thư Tự”?... mà lòng bâng khuâng như gặp lại người xưa cảnh cũ.

Vương Hi Chi tiên sinh, sống thời Đông Tấn - bậc kim cổ đệ nhất thư pháp nên được gọi là Thánh thư. Cũng phải thôi, vì rằng:

Con người ấy lòng dạ trong sạch không bợn mùi tục lụy, danh lợi tình xem như mây nổi.

Danh sĩ ấy say mê thư pháp đến quên ăn quên ngủ, khổ học luyện chữ thành bậc kỳ tài, riêng chữ “Vĩnh” 永 cũng luyện mất 15 năm trường, luyện cho từng nét bút hằn sâu trong tâm trí, múa lượn cả trong mơ, hễ đặt bút xuống là như hành vân lưu thủy.

Bậc chân tu Đạo gia ấy sống gần như cùng thời với Đào Uyên Minh, “Trúc Lâm thất hiền”, một thời hoàng kim của Huyền học và người tu Đạo xem trọng thanh tĩnh vô vi.

Dân gian xưa nay có câu “nét chữ nét người”, người ra sao chữ hao hao làm vậy. Cách viết chữ của Vương Hi Chi chính là cách làm người của ông. Vậy nên Trung Hoa xưa có thuật bói chữ, chỉ cần nhìn chữ mà luận ra nhân vật cùng số mệnh.

Thiên hạ cổ kim vẫn bàn luận: chữ của Vương Hi Chi trong nhu mà có cương, trong cứng lại có mềm, bay bổng phóng khoáng mà không phóng túng khoe khoang, nét trùng mà không quá dài, nét đơn mà không quá nhỏ, mảnh mai nhưng không đứt gãy, lặp mà không quá to; lớn mà không quá giới hạn, nhỏ mà không tủn mủn, nghiêm cẩn mà chẳng thiếu tài hoa… tại hạ trộm nghĩ rằng chính là đã đạt tới cảnh giới trung chính bình hòa, cân bằng tuyệt vời, siêu xuất của người tu Đạo.

Chuyện rằng tết Hàn Thực mùa xuân năm ấy (năm 353), Thư thánh Vương Hi Chi cùng các danh sĩ đương thời, tất cả có 42 người, hẹn nhau uống rượu luận thơ tại Lan Đình, (huyện Sơn Âm & Cối Kê). Họ chơi trò “thả chén đặt thơ”, chén rượu trôi theo dòng nước, dừng ở ai thì người ấy phải ứng khẩu một bài thơ, nếu không thì chịu uống rượu phạt.

Những bậc quân tử, danh sĩ đương thời, trên thì có tài giúp vua trị quốc, dưới lại là những cột trụ tinh thần của xã tắc nhân dân, khi vui gặp gỡ thì chén rượu cuộc cờ, câu đàn điệu hát, khí bút hơi văn như phượng múa rồng bay, không chỉ có học vấn thâm hậu, có tài kinh bang tế thế mà Lục Nghệ cũng tinh thông… Nay họ quần tụ cả lại ở chốn Lan Đình, nơi có loài hoa lan tượng trưng cho người quân tử “không vì người chẳng biết đến mình mà không tỏa hương thơm ngát”. Bốn bề núi rừng trùng điệp, không khí trong lành, trời trong nước lặng, hiu hiu gió thổi… vũ trụ như thu cả lại trong giờ phút này, lịch sử sẽ không bao giờ lặp lại nữa.

Cuối cùng, có 26 người đã sáng tác tổng cộng 37 bài thơ, tập hợp lại thành tập thơ gọi là “Lan đình tập”. Vương Hi Chi nhân lúc rượu nồng cao hứng, tình cảm dạt dào, bằng hữu lại vây quanh nhờ cậy viết lời đề tựa, đã hạ bút viết liền một mạch lên giấy tơ tằm. Đây chính là bài tựa “Lan Đình Tập Tự”, gọi tắt là “Lan Đình Tự”, áng văn bất hủ, nét bút như Thần.

Quả là giây phút vạn năm một thuở, để lại một kiệt tác vĩnh viễn cho muôn đời sau.

Bài văn có đoạn:

“Người ta cùng cúi ngửa ở trong đời, hoặc đem cái hoài bão của mình ra nói chuyện trong một nhà, hoặc nhân ký thác ở một sự tình gì mà phóng lãng ở ngoài hình hài, tuy thủ xả khác nhau, tĩnh động tuỳ người, nhưng đương lúc vui gặp thời, tạm đắc ý với mình, khoan khoái tự túc, mà thường chẳng hay cái già sắp tới.

Kịp đến khi mỏi mệt, tình ý theo sự thế mà thay đổi, sinh ra cảm khái. Cái mà trước kia vui trong lúc cúi ngửa đã thành ra vết cũ, mà nhớ lại, lòng không thể không hoài cảm.

Huống đời người dài ngắn do trời, đều quy về cõi chết cả. Người xưa nói: “Tử sinh đều là việc lớn”, há chẳng đau lòng thay!

Mỗi khi xét nguyên do người đời xưa cảm khái, như in với người đời nay, không lần nào đọc văn người xưa mà không than thở buồn rầu trong lòng, không hiểu tại sao.

Cho nên bảo tử sinh cũng như nhau là lời hư ngoa; bảo Bành Tổ không hơn gì kẻ chết yểu là lời nói láo. Người đời sau nhìn lại đời bây giờ, cũng như người bây giờ nhìn lại đời xưa, buồn thay!

Vì vậy tôi chép lại chuyện người trong tiệc, sao lục thơ họ làm, tuy đời và việc đều khác nhau, nhưng lẽ sở dĩ cảm khái thì là một. Người đời sau đọc bài này chắc không khỏi bùi ngùi.”
(Nguyễn Hiến Lê dịch)

“Người đời sau nhìn lại đời bây giờ, cũng như người bây giờ nhìn lại đời xưa, buồn thay!” - Kẻ hậu sinh này mỗi khi đọc lại văn của tiên sinh, thưởng thức chút Thần khí vương lại của “Lan đình tập tự” chẳng hiểu sao cũng thấy bùi ngùi trong dạ.

Các bằng hữu muốn thử chút cảm giác hiếm hoi quý báu này, có thể bớt chút thời gian ghé thăm Shen Yun shop Việt Nam, 289 Lacasta khu đô thị mới Văn Phú, Hà Đông, nghe nhạc Shen Yun, được chia sẻ câu chuyện văn hóa tinh túy, ngắm đồ lưu niệm. Còn mua hay không tại hạ không quan tâm và không có liên quan gì.

Vì chút tri ân với Vương Hi Chi tiên sinh đã viết xong rồi.

TIỀN NHIỀU ĐỂ LÀM GÌ? (P2) – KHI NGHỆ THUẬT BIẾN THÀNH CUỘC CHƠI DANH LỢITrong bài viết trước, chúng ta đã đi đến kết lu...
04/09/2022

TIỀN NHIỀU ĐỂ LÀM GÌ? (P2) – KHI NGHỆ THUẬT BIẾN THÀNH CUỘC CHƠI DANH LỢI

Trong bài viết trước, chúng ta đã đi đến kết luận rằng: tiền bạc dư thừa nên được dùng để tài trợ, quảng bá, xiển dương những giá trị đạo đức, tư tưởng và nghệ thuật cao quý. Đó cũng là sự đầu tư rất hợp lý để kéo dài sự thịnh vượng của một cá nhân hay dòng họ, thậm chí cả trong hậu kiếp. Những phú gia tài trợ cho các công trình nghệ thuật được gọi là nhà bảo trợ nghệ thuật. Chẳng hạn như gia tộc Medici thành Florence nước Ý chính là một nhà bảo trợ nghệ thuật điển hình, có tính quyết định đến sự phát triển lớn mạnh của thời đại nghệ thuật Phục Hưng.

Sẽ không có vấn đề gì xảy ra nếu nhà bảo trợ nghệ thuật không can thiệp vào chuyên môn của nghệ sĩ, hay nội dung của tác phẩm. Hai bên cần tìm hiểu kỹ về nhau và thống nhất được ý tưởng trước khi công trình được thi công. Và sau đó thì việc của ai người ấy thực hiện, nhà bảo trợ là bên xuất tiền, nghệ sĩ là người xuất lực.

Nhưng đời luôn có sự bất ngờ, trong nghệ thuật cũng thế.

Một số nhà bảo trợ lại nảy ra ý tưởng muốn được lưu danh thiên cổ cùng với tác phẩm, tức là theo cái cách hình ảnh của họ được hiện diện trên tác phẩm, chứ không chỉ bằng lòng với vị trí của một nhà bảo trợ đứng đằng sau “cánh gà”. Ý tưởng này thật nghiêm trọng, nhất là khi chủ đề của tác phẩm càng nghiêm túc.

Chẳng hạn như trong tranh bàn thờ (altarpiece), là loại tranh được đặt trên bàn thờ của nhà thờ, nơi có rất nhiều tín đồ đến chiêm bái. Tranh bàn thờ này ban đầu chỉ có ở các thánh đường, do nhà thờ chế định, nhưng về sau nó cũng xuất hiện trong cả tư gia nữa. Nhân vật chính trong tranh bàn thờ, dĩ nhiên là Thiên Chúa, Chúa Jesus và các Thánh thần khác của Công giáo. Do vậy, yêu cầu về chất lượng tác phẩm rất cao. Hình ảnh của các Thần phải được vẽ với chất lượng hoàn thiện cao nhất, đẹp nhất, cao thượng nhất với lòng sùng kính thiêng liêng của nghệ sĩ.

Nhưng đồng thời, hình ảnh của nhà bảo trợ cũng xuất hiện trên họa phẩm (xem hình minh họa).

Tất nhiên, hình ảnh của nhà bảo trợ phải được khắc họa thật nhất, giống với họ ngoài đời nhất, chứ không thể giống với hình ảnh tưởng tượng đẹp đẽ, phi thường về các Thần được.

Trong các chương trình “sức mạnh của âm nhạc, hình ảnh, ngôn từ”, chúng tôi đã phân tích về năng lượng của bức họa là tổng hợp từ năng lượng của nhân vật và năng lượng của họa sĩ. Chất lượng của nguồn năng lượng này lại tùy thuộc vào tư tưởng của họ.

Chẳng hạn như bức “Chúa tạo ra Adam” của Michelagelo có nguồn năng lượng cực cao, vì khắc họa hình ảnh Thiên Chúa và các Thiên Thần & Adam trong trẻo, tương truyền là hình ảnh mà Michelangelo được khải thị. Hơn nữa, Michelangelo còn là một Cơ Đốc nhân có đức hạnh và đức tin lớn. Sau cùng, kỹ pháp cao siêu của ông hoàn thiện nốt phần còn lại của kiệt tác. Chính vì vậy, người ta luôn cảm thấy chấn động khi đứng trước bức họa này, tinh thần được gột rửa, đạo đức được thăng hoa, bệnh họa cũng lùi bước.

Bây giờ hãy tưởng tượng bên cạnh những hình ảnh thánh khiết về Chúa và các Thiên Thần trên các bức tranh bàn thờ, bỗng xuất hiện một tục khách với dục vọng phàm nhân, ít nhất có thể nhìn thấy ngay tính hám danh của anh ta… thì bức họa ấy có còn thuần chính nữa hay không? Hay là hỗn tạp, lộn xộn.

Nó cũng mất đi tính trang nghiêm khi tín đồ mỗi lần bái lạy Thần, lại đồng thời phải bái lạy một người phàm, chỉ bởi anh ta có quyền lực của tiền bạc để sai khiến nghệ thuật.

Chưa hết, tranh tôn giáo còn hỗ trợ cho việc tu hành, nhưng tu sao được nếu hình ảnh một người phàm cảnh giới thấp lại được lưu lại trong ký ức cùng với hình ảnh Thần thánh?

Hiện tượng này không chỉ xuất hiện trong một số bức tranh bàn thờ, mà còn trên một số tranh kính màu ở nhà thờ vào cuối thời kỳ Trung Cổ.

Vào thời kỳ mà sức ảnh hưởng của tín ngưỡng còn mạnh mẽ, mà dục vọng cá nhân đã khiến một số người thiếu tôn kính Thánh Thần, vì thế nghệ thuật xuất hiện những yếu tố bất thuần đầu tiên.

Đến nay, nó càng là một vấn đề gây nhức nhối, càng nhức nhối hơn trong sự thờ ơ nhân thế.

Chẳng hạn như cầu thủ Eric Cantona được vẽ trong hình dạng Chúa Jesus ở bức họa năm 1997 - “The Art of the Game” của họa sĩ Michael Browne. Bức họa này lấy cảm hứng từ hai bức họa nổi tiếng từ cuối thế kỷ 15: “Phục sinh” của Piero della Francesca , và “Chiến thắng của Caesar” của Andrea Mantegna. (Chi tiết xem hình minh họa)

Bức họa đã gây nên tranh cãi, nhưng họa sĩ Michael Browne với những biện giải lằng nhằng đã không thực sự nhìn ra vấn đề của cả anh ta và Eric Cantona. Đó là nghệ thuật chân chính (Art) có lai lịch không hề tầm thường, nó không phải là cuộc chơi (Game), mà là cứu rỗi; không phải sân túc cầu, mà là điện đường tôn nghiêm; không phải là để mưu cầu danh lợi, mà là tôn vinh tín ngưỡng và những giá trị cao đẹp nhất - Thần Phật. Có như vậy, nó mới có đủ năng lượng tích cực để cứu rỗi con người.

Ngược lại, bức “The Art of the Game” là một sự báng bổ Thánh Thần và coi rẻ nghệ thuật chân chính.

Michael Browne đã thuật lại như sau:

"Tôi đã tạo ra bức tranh trước công chúng trong một quán bar ở Castlefield. Eric đến vào một buổi sáng yên tĩnh và ngồi uống nước. Tôi đến gặp anh ấy và anh ấy rất nhiệt tình tham gia ... Anh ấy đã mua bức tranh trước khi hoàn thành."

Sau hơn 5 thế kỷ, tư tưởng con người đã biến hóa đến mức nào?

Từ chỗ rón rén làm nhân vật phụ “nhờ bóng Thánh Thần”, đến việc thay thế Thánh thần – đó là một nhà bảo trợ nghệ thuật; từ trạng thái cực chẳng đã đành nhượng bộ, đến việc chủ động báng bổ Thần Thánh, chủ động tiếp thị - đó là một họa sĩ.

Câu hỏi đặt ra cho thời đại, đó là: Thế nào là một nhà bảo trợ nghệ thuật chân chính? Thế nào là một nghệ sĩ chân chính? Và thế nào là một tác phẩm nghệ thuật chân chính?

Bởi vì nếu như nghệ thuật chân chính có sức mạnh cứu rỗi con người, thì giả nghệ thuật cũng có đủ sức mạnh phá hủy sinh mệnh; nghệ sĩ và nhà bảo trợ nghệ thuật chân chính có thể tạo nên công đức vô lượng, thì cũng có thể tạo nghiệp vô biên nếu họ đi sai đường… đó là lý tương sinh tương khắc của vũ trụ hay tính chất hai mặt của một vấn đề.

TIỀN NHIỀU ĐỂ LÀM GÌ?Một ưu tư thường trực của người có nhiều tiền.Trước khi đặt vấn đề “tiền nhiều để làm gì?”, hãy đi ...
30/08/2022

TIỀN NHIỀU ĐỂ LÀM GÌ?

Một ưu tư thường trực của người có nhiều tiền.

Trước khi đặt vấn đề “tiền nhiều để làm gì?”, hãy đi tìm hiểu “vì sao mà có tiền?”

Không ít vị cho rằng: vì tài nên có tiền, còn đi xa hơn nữa thì: vì tiền nên có tài. Thì đúng là có những người tài trí kiếm tiền rất giỏi, nhưng đừng quên rằng xưa nay khối kẻ tài trí vẫn sống chật vật, thánh nhân, hiền nhân vẫn nghèo. Lại có những người không tài trí lắm, nhưng may mắn cứ đến với họ, vẫn có thể giàu có như thường.

Người xưa có câu: “đại phú do thiên, tiểu phú do cần” – đủ ăn tiêu là nhờ cần cù, năng nhặt chặt bị, còn muốn thành cự phú, thì phải có Trời giúp, mà Trời chỉ giúp người có đức. Đức lại là cái không phải ai cũng có. Đức là gốc, tài là ngọn. Giàu to là do đức từ các đời các kiếp trước tích lại, đến đời này được hưởng. Nên cũng lại có câu: “có đức mặc sức mà ăn”, hay là “có phúc ắt có phần”.

Tiền nhiều làm gì nhỉ? Ăn tiêu thỏa thuê cũng chỉ hết chừng ấy, nhiều khi người giàu lại chẳng rảnh tay để tiêu tiền.

Hay để bao nuôi baby sugar? Ấy! Tan cửa nát nhà chứ chẳng chơi.

Hay kiếm nhiều để lại hết cho con cháu? Thế thì chúng còn phải làm gì nữa? Mà cũng phải xem chúng có phúc ấy không đã. Hay là lại hóa tán hết?

Hay tiếp tục đổ tiền vào làm ăn cho giàu lớn hơn nữa? Cũng được. Nhưng chết rồi có mang được gì đâu.

v.v.

Trừ phi anh không thừa nhận giàu là nhờ có đức. Còn nếu câu trả lời là có, thì rõ ràng, cái mà chúng ta cần đầu tư để kéo dài sự giàu có, thịnh vượng không chỉ trong đời này, chính là đức.

Tất nhiên có những người làm việc thiện không toan tính và vô điều kiện, nhưng lên tới cảnh giới ấy đã hiếm, cứ cho là người ta làm có mục đích đi, thì hãy đầu tư vào đức.

Người xưa nói về 3 cảnh giới: lập công, lập ngôn và lập đức.

Lập công, ví như ta đang nói về những người làm giàu thành công. Lập ngôn, chẳng hạn như họ phát biểu, viết sách dạy người ta làm giàu.
Nhưng lập đức mới là cảnh giới cao nhất.

Người giàu lập đức không gì bằng bảo trợ, xiển dương cái đức trong xã hội, nâng đỡ tư tưởng và nghệ thuật chân chính. Tiền nhiều để vào đây mới là đúng chỗ.

Khi đức Phật Thích Ca ở nước Xá Vệ, có trưởng lão Cấp Cô Độc sẵn sàng bỏ gia sản rất lớn để mua khu vườn của một thái tử, để đức Thích Ca có nơi giảng Pháp.

Khi đức Khổng Tử cùng 72 học trò rong ruổi thiên hạ, tìm minh quân để mong áp dụng được cái đạo trị quốc của ngài, cũng nhờ có đại phú thương Tử Cống đi cùng bảo trợ, phò tá. Tử Cống giàu có, lại danh vang thiên hạ, vua chúa đều nể vì, đức Khổng Tử vì thế mà có thêm thuận lợi.

Vấn đề này Tây hay Đông cũng “đại đồng tiểu dị”.

Nhắc đến thời đại Phục Hưng, là nhắc đến những thiên tài nghệ thuật Leonardo Da Vinci, Michelangelo, Raphael, Titian… và những họa phẩm bất hủ của họ; ngoài ra còn có những kiệt tác kiến trúc và điêu khắc ghi dấu những tài năng nghệ thuật khác nữa. Nhưng nếu không có dòng họ Medici đóng vai người bảo trợ nghệ thuật, thì không thể có các nghệ sĩ tài năng và các tác phẩm bất hủ.

Thông thường, tài năng thiên phú ắt phải đi cùng với đức hạnh. Những bậc thầy về tư tưởng và nghệ thuật không có truy cầu của cải, nhưng khi vẫn còn mang tấm thân huyết nhục, họ vẫn cần duy trì nhu cầu sinh hoạt ăn mặc ở bình thường nơi thế gian. Nếu họ phải lo sinh kế chật vật, thì khó mà rảnh rang để giáo hóa thiên hạ, hay cống hiến những tác phẩm cao siêu, hết thảy đóng góp cho nền văn minh nhân loại, kẻ hậu thế cũng được nhờ.

Chưa nói đến lĩnh vực nghệ thuật vốn là một cuộc chơi đắt tiền. Chỉ riêng chi phí cho nguyên vật liệu đã là cả một gia tài. Hãy thử tưởng tượng việc người ta đem vàng và đá Lapis Lazuli (đắt hơn vàng) và những thứ vật chất đắt tiền khác để làm chất liệu vẽ tranh Phục Hưng hay tác phẩm điêu khắc, kiến trúc... thì có mấy người theo nổi, ngoài những đại phú gia hay vương hầu quý tộc? Nếu không có họ, nghệ sĩ biết xoay sở làm sao?

Nhà bảo trợ nghệ thuật vì thế mà xuất hiện, giúp cho nhà tư tưởng, nghệ sĩ chân chính không phải lo sinh kế, và có điều kiện cống hiến, ấy là sự phân công tuyệt vời hợp lý mà lịch sử và chư Thần đã giao phó cho họ. Như vậy chính là lập đức, tiền để vào đây là đúng chỗ nhất. Mối quan hệ giữa nhà bảo trợ và các thánh hiền, nghệ sĩ chân chính là mối quan hệ được đặt an bài đặt định trong lịch sử nhân loại.

Gia tộc Medici thành Florence nước Ý đã tài trợ cho những họa sĩ, nghệ thuật gia nổi tiếng như Michelangelo, Masaccio, Donatello, Leonardo Da Vinci, Sandro Botticelli… thậm chí cho cả khoa học gia Gallileo. Họ tài trợ việc xây dựng nhà thờ San Lorenzo và những công trình kiến trúc khác như phòng trưng bày Uffizi, cung điện Pitti, vườn Boboli và biệt thự Belvedere v.v. và sưu tầm rất nhiều các tác phẩm nghệ thuật khác. Có thể nói, nếu không có gia tộc Medici thì không có thời kỳ Phục Hưng, ngược lại sự thịnh vượng lâu dài của họ lại là nhờ công lao phò trợ nghệ thuật chân chính.

Tiền nhiều để làm gì? Còn để làm gì chính đáng hơn là bảo trợ cho đạo đức, tư tưởng và nghệ thuật chân chính? Người giàu thể hiện được lòng hảo tâm của mình, gieo Nhân tốt và gặt hái Quả ngọt thịnh vượng cho bản thân và dòng họ.

Nhưng cũng cần sự sáng suốt để nhận chân đạo đức và nghệ thuật chân chính, bởi nếu dùng tiền vào sai chỗ, sai người, để ủng hộ cái bất thiện, tà vạy, thì phản tác dụng, thất đức. “Cúng dường cũng phải tìm chùa”.

Và cũng phải tránh được ham muốn can thiệp vào nội dung tác phẩm của người mà họ bảo trợ, gây nên tình huống dở khóc dở cười như trong kỳ sau của bài viết.

THẤT TỊCH ĂN CHÈ ĐẬU ĐỎLễ Thất Tịch ăn chè đậu đỏRâu ông nọ cắm cằm bà kiaLễ Thất Tịch 7/7 âm lịch, nhiều thanh niên ăn ...
05/08/2022

THẤT TỊCH ĂN CHÈ ĐẬU ĐỎ

Lễ Thất Tịch ăn chè đậu đỏ
Râu ông nọ cắm cằm bà kia

Lễ Thất Tịch 7/7 âm lịch, nhiều thanh niên ăn chè đậu đỏ mong thoát ế, thêm một phương án chống ế khi chùa Hà đã quá tải và có vẻ “danh đã hư truyền”. Kỳ thực, nếu hiểu ra ý nghĩa của Lễ Thất Tịch và đậu đỏ, các bạn trẻ sẽ phải phì cười vì vô cớ ghép hai thứ đó lại với nhau, mong là lúc đó bạn đang không húp dở chè đậu đỏ.

Nguyên Thất Tịch là chiều tối ngày 7/7 âm lịch hàng năm, quan niệm thời nay cho rằng cả năm có mỗi ngày ấy Ngưu Lang Chức Nữ đoàn tụ, còn lại là sống phận FA, ngóng nhau qua hai bờ sông Ngân tít tắp.

Thực ra, câu chuyện Ngưu Lang Chức Nữ ở đất Trung Hoa có nội hàm khác và có một số phiên bản, nhưng không có phiên bản nào nói về chuyện nam nữ tương tư sướt mướt như quan niệm hiện đại. Cái đó là ông Ngâu bà Ngâu phiên bản Việt.

Cuốn “Tiểu thuyết” của Ân Vân triều Nam Lương miêu tả chi tiết về câu chuyện Ngưu Lang Chức Nữ, và lý do của cuộc tương ngộ đêm 7/7. Chức Nữ là con gái Thiên đế, nhà ở bờ Đông sông Thiên Hà, chuyên nghề dệt áo. Thiên đế thấy nàng cô độc, bèn gả cho anh Ngưu Lang nhà ở bờ Tây sông Thiên Hà. Không may hai người trăng mật hơi lâu, đã bảo vui thôi đừng vui quá, nhưng Chức Nữ say men tình quên mất nhiệm vụ dệt áo. Và phần còn lại thì như chúng ta đã biết, ai lại về nhà nấy, năm được gặp nhau một lần.

Chuyện nói về nết hạnh chăm chỉ của người phụ nữ, khuyên rằng dù còn son rỗi hay đã theo chồng cũng đừng bỏ cuộc chơi, à quên, bổn phận, công việc của mình.

Một phiên bản khác của chuyện Ngưu Lang Chức Nữ là chuyện “hôn nhân với Tiên”. Thực ra chuyện này nhấn mạnh đến chữ Hiếu, và đã được ghi trong danh tác “Nhị Thập tứ Hiếu – 24 tấm gương hiếu hạnh”. Đổng Vĩnh nhà nghèo nhưng cực kỳ hiếu hạnh, bán mình cho nhà giàu để có tiền an táng cha. Sau đó thì anh được Tiên nữ hạ phàm, theo về làm vợ, dệt ra lụa thượng phẩm để giúp anh trả nợ và chuộc mình. Xong việc, Tiên lại về trời.

Tóm lại, Thất Tịch không liên quan đến chuyện tương tư gì ở đây.

Còn đậu đỏ, thì nói nghiêm túc là có đấy, nhưng không phải là cái đậu đỏ nấu chè kia đâu.

Thi hào Vương Duy đời Thịnh Đường có thi phẩm “Tương tư”, liên quan đến “Hồng đậu”, nhưng không phải đậu đỏ. Hồng đậu là thực vật sinh ra ở đất Lĩnh Nam, tức là phía nam Trung Quốc ngày nay.

Bài thơ viết rằng:

Hồng đậu sinh nam quốc,
Xuân lai phát kỷ chi.
Nguyện quân đa thái hiệt,
Thử vật tối tương ti (tư).

Hải Đà dịch:

Nước nam sinh đậu đỏ
Xuân về nở cành xinh
Chàng ơi hái nhiều nhé
Nhớ nhau tha thiết tình

Hồng đậu có hạt hình tròn, màu sắc tươi hồng, hình dạng đáng yêu, thường làm trang sức trên mái tóc phụ nữ. Người xưa lấy cây này biểu tượng cho tình yêu nên mới có tên là cây “tương tư”. (xem hình).

Và đó cũng chính là tâm sự của “cậu Bảo” với “em Lâm” trong kiệt tác điện ảnh “Hồng Lâu Mộng 1987”. Nhạc khúc này được đích thân cậu Bảo thể hiện (xem comment). Các thanh niên vừa ăn chè đậu đỏ vừa thưởng thức cũng được. Nhưng đừng sốt ruột mong có người yêu quá, theo mình thì hạnh phúc nằm trong tâm của mỗi chúng ta, xoay chuyển suy nghĩ, nhìn sự việc theo cách khác, thì cuộc sống thanh thản hơn nhiều. Khi mình tìm ra được mình, thì hạnh phúc cũng tìm đến mình. Và Văn hóa truyền thống là cái kho kinh nghiệm để chúng ta tham khảo.

Mục đích chân chính của nghệ thuật hay là trả lời cho câu hỏi: Nghệ thuật sinh ra để làm gì?
01/08/2022

Mục đích chân chính của nghệ thuật hay là trả lời cho câu hỏi: Nghệ thuật sinh ra để làm gì?

Lịch sử nhân loại vốn rất lâu dài. Con người tiền sử đã đi xa, và không để lại ghi chép văn tự, nên khiến người ta cảm thấy nó mới chỉ có trên dưới 5.000 năm tuổi. Trong khảo cổ học, trong truyền ...

PHỤC HƯNG NGHỆ THUẬT TRƯỚC TIÊN PHẢI ĐI TỪ PHỤC HƯNG TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC VÀ CHÍNH TÍNTương truyền rằng sau khi Michelangel...
20/07/2022

PHỤC HƯNG NGHỆ THUẬT TRƯỚC TIÊN PHẢI ĐI TỪ PHỤC HƯNG TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC VÀ CHÍNH TÍN

Tương truyền rằng sau khi Michelangelo hoàn thành kiệt tác bích họa trên vòm trần nhà nguyện Sistine, ông đã cho đốt hết các bản vẽ phác thảo chuẩn bị của nó để người đời sau không biết ông đã lao tâm khổ tứ như thế nào, đã vận dụng thần công tuyệt kỹ cá nhân ra sao, mà chỉ tận hưởng kiệt tác hoàn mỹ không gắn kèm dấu ấn cá nhân nào của ông. Nói cách khác, ông không muốn kể công hay lộ tài.

Quan niệm này không phải chỉ của Michelangelo, mà còn là của các bậc thầy nghệ thuật thời Phục Hưng, được Baldassare Castiglione (1478 – 1529) - một triều thần, chính trị gia, đồng thời là một tác gia nổi tiếng thời Phục Hưng đặt cho khái niệm: “Sprezzatura”. Như sau:

“Tôi tìm ra một quy luật phổ quát, mà tôi thấy đối với tôi dường như hiệu nghiệm trong việc này hơn mọi thứ được con người làm hoặc nói ra: đó là hết sức tránh sự giả tạo như một tảng đá sắc nhọn và nguy hiểm; và để dùng một từ có thể là mới, trong mọi việc cần thực hành một sprezzatura (sự thờ ơ, hờ hững, vô tình) nhất định, để che giấu ý đồ và cho thấy cái được làm hoặc được nói đã được thực hiện không có bất cứ một cố gắng nào và hầu như không suy tính. Tôi tin rằng vẻ duyên dáng kiều diễm chủ yếu là từ đó mà ra, bởi ai cũng biết sự khó khăn của những thứ hiếm có và được làm tốt. Vì thế sự khéo léo dễ dàng trong chúng gây nên sự khâm phục ngưỡng mộ cao nhất; mặt khác, trong khi đó, gắng sức, như châm ngôn thường nói, nắm tóc xềnh xệch lôi đi, là cực kỳ vô duyên, kém thanh nhã, và khiến chúng ta coi nhẹ mọi thứ, cho dù có lớn lao đến mấy.

Do đó chúng ta có thể khẳng định cái được gọi là kỹ năng đích thực là cái trông như chẳng phải kỹ năng; hay bất cứ thứ gì cần quan tâm nhiều hơn là che giấu kỹ năng; bởi nếu nó bị lộ ra, nó sẽ làm hỏng đáng kể uy tín của chúng ta và khiến chúng ta bị đánh giá thấp.” (1)

Michelangelo cũng là người vô cùng khiêm tốn, ông từng nhiều lần nói rằng tài năng không phải do mình sở hữu mà là được Chúa cấp cho để cống hiến cho nghệ thuật của nhân loại và tôn vinh Chúa.

“Rất nhiều người và bản thân tôi cũng tin rằng tôi sinh ra là một người nghệ sĩ. Mặc dù tuổi đã già, tôi không hề muốn từ bỏ công việc; tôi làm việc để đền đáp lại tình yêu của Chúa và tôi đặt toàn bộ niềm tin vào Ngài.”

"Cần phải có lòng kiên nhẫn, tin cậy nơi Đức Chúa Trời, và ăn năn những lỗi lầm của mình, vì những nghịch cảnh này không đến từ điều gì khác ngoài những điều đó, và nhất là từ sự kiêu ngạo và thiếu khôn ngoan." (Michelangelo)

Tư tưởng lớn và phẩm chất cao quý đích thực, thì dù Đông hay Tây cũng như nhau. Văn hóa Thần truyền phương Đông đề cao sự hàm dưỡng, khiêm nhường, che giấu tài năng, và thay vì lối diễn giải dài dòng khó khăn của phương Tây, thì chỉ cần cô đọng bằng những câu như là: “cao nhân bất lộ tướng”, “Đại trí nhược ngu”.

Khiêm nhường và cống hiến mới vươn tới vĩ đại.

Điều này khác hẳn nhiều họa sĩ, nghệ thuật gia hiện đại khoe khoang cái tôi, dấu ấn cá nhân, cá tính nghệ thuật… chỉ nhìn vào cách thể hiện họa phẩm hay tác phẩm nghệ thuật là thấy rõ. Mà cái tôi thì luôn luôn tầm thường, nhỏ hẹp và hữu hạn. Thật sai lầm và đáng tiếc! Nhưng cũng là ở trong cái dòng chảy sai lầm của lịch sử mà thôi.

Muốn phục hưng nghệ thuật, trước hết phải phục hưng tư tưởng, đạo đức và chính tín, rồi mới nói chuyện đến phương pháp trình diễn nghệ thuật.

(1): Trong Il libro del Cortegiano (Sách của triều thần) [1] về lễ nghi và đạo đức của triều thần, xuất bản năm 1528, và có ảnh hưởng lớn trong các triều đình châu u t.k. XVI, Castiglione đã đưa ra quan niệm sprezzatura (phát âm: xprét-txa-tuu-ra), quyển I, mục 26 của cuốn sách này. (nguồn từ họa sĩ Nguyễn Đình Đăng)

Ý nghĩ của con người, thậm chí có thể sửa đổi cả DNA.Thành tâm niệm chân ngôn nhà Phật có thể câu thông đến những nguồn ...
10/07/2022

Ý nghĩ của con người, thậm chí có thể sửa đổi cả DNA.

Thành tâm niệm chân ngôn nhà Phật có thể câu thông đến những nguồn năng lượng, những sinh mệnh cao thượng trong vũ trụ, và rồi... những sự huyền diệu xảy ra.

Rốt cuộc vẫn là một chữ "Tâm".

Từ góc độ lý giải theo khoa học, đây là một clip được đầu tư công phu và hết sức thuyết phục của Chánh Kiến Net.

🌸 Chào mừng quý khán thính giả đến với chương trình Radio Chánh Kiến.- Kính mời quý vị cùng chúng tôi ôn cổ minh kim, khám phá bí ẩn của vũ trụ, sinh mệnh v...

Xưa Khổng Tử khi ở nước Tề được nghe nhạc Thiều của vua Thuấn, sau đó 3 tháng không thèm mùi vị thịt. Ngày nay (giữa thá...
04/07/2022

Xưa Khổng Tử khi ở nước Tề được nghe nhạc Thiều của vua Thuấn, sau đó 3 tháng không thèm mùi vị thịt. Ngày nay (giữa tháng 2/2020) nước Ý tổ chức nghe nhạc Đỏ của Trung Cộng ngay trong dinh Tổng thống Ý, liệu cả nước Ý có "b**g", "toang"?

Xin xem bài dưới đây, một bản dịch chất lượng và đem lại nhiều kiến thức bổ ích của NTDVN.

Âm nhạc có sức mạnh vĩnh hằng siêu vượt thời gian, không gian, nó có thể dễ dàng phá vỡ giới hạn của chủng tộc, khu vực, tôn giáo và tín ngưỡng

Câu chuyện đầy đủ hơn về Kimura và những cây táo, trái táo tuyệt hảo được nuôi nấng bằng những lời trìu mến của ông.Than...
02/07/2022

Câu chuyện đầy đủ hơn về Kimura và những cây táo, trái táo tuyệt hảo được nuôi nấng bằng những lời trìu mến của ông.

Than ôi! Làm "kẻ ngốc" như Kimura có dễ đâu, cần phải kiên định lắm lắm!!!

Kinh ngạc cách người nông dân Nhật Bản dành 11 năm để tạo nên kỳ tích chấn động Nhật BảnỞ khu vực Shirokanedai thuộc Tokyo (Nhật Bản) có một nhà hàng Tây cao...

CÂU CHUYỆN ÂM NHẠC: Johann Sebastian Bach và Felix Mendelssohn – Độc Cô Cầu Bại và Dương Quá trong thế giới âm nhạc cổ đ...
16/06/2022

CÂU CHUYỆN ÂM NHẠC: Johann Sebastian Bach và Felix Mendelssohn – Độc Cô Cầu Bại và Dương Quá trong thế giới âm nhạc cổ điển

Bạn đọc xem “Thần điêu hiệp lữ” của văn hào Kim Dung có mấy hạng. Hạng mà xem xong chỉ nhớ độc có chuyện tình Dương Quá – Cô cô, thì chỉ là hạng xoàng. Tại vì chuyện chàng chàng thiếp thiếp nó hơi bị hạn cuộc. Mà phụ nữ toàn hảo cỡ như Tiểu Long Nữ, Nhậm Doanh Doanh… thì chỉ có trong truyện Kim Dung mà thôi.

Đàn ông gặp nhau mới nên chuyện ly kỳ thâm sâu bát ngát. Như chuyện hậu sinh gặp được cao nhân tiền bối, nhất là cao đồ gặp được minh sư, còn đặc biệt hơn là khi minh sư đã khuất núi mà vẫn còn để lại đạo lý cao thâm tuyệt học cho cao đồ hưởng dụng mãi không hết, như chuyện Dương Quá và Độc Cô Cầu Bại chẳng hạn.

Chẳng là Dương Quá trong một lần lưu lạc, tình cờ kết bạn với một con chim điêu cực lớn, linh dị như thần vật. Sau đó, chim điêu dẫn chàng đến một góc núi hoang vu, nơi ấy có một nấm mồ cô quạnh. Chẳng ai ngờ được nhân vật nằm dưới nấm mồ ấy đã từng là một đại sư võ học thông thần, cả đời chống kiếm đi khắp thiên hạ mong tìm ra người có thể đánh bại mình, thậm chí chỉ cần chống đỡ được mình… mà không được, cuối cùng mất đi trong cô quạnh ở nơi hoang lương tịch mịch, bên cạnh chỉ có thần điêu.

Đó là nhân vật bí ẩn nhất mà lại nổi danh nhất trong các thiên tiểu thuyết của Kim Dung: Kiếm ma Độc Cô Cầu Bại.

Dương Quá thu lượm được 3 thanh kiếm và năm triết lý về võ của Độc Cô Cầu Bại, còn cao hơn chiêu thức võ thuật, chính là võ đạo. Nhờ đó “Quá nhi” luyện nên một thân võ học tuyệt nghệ, cuối cùng được xếp ngang hàng với những nhân vật của Võ Lâm Ngũ Bá có võ công cao nhất thời ấy: Đông Tà Hoàng Dược Sư, Nam Đế Đoàn Trí Hưng và Lão Ngoan Đồng Châu Bá Thông. Võ công xưng bá, vợ đẹp như tiên, nhưng cái tình quá nặng, “Quá nhi” làm hỏng cả đường tu của cô cô vốn căn cơ cao hơn chàng nhiều.

Chuyện này xin kể vào một ngày khác.

Chuyện hôm nay là về hai nhân vật tương tự Dương Quá và Độc Cô Cầu Bại của nhạc cổ điển phương Tây – Felix Mendelssohn và Johann Sebastian Bach, cả hai đều là người Đức.

Mendelssohn (1809 – 1847) vô cùng tài hoa, thể hiện năng khiếu âm nhạc từ rất sớm, giống như một thần đồng, được coi như một Mozart thứ hai, thuộc trường phái âm nhạc lãng mạn nhưng có xu hướng bảo vệ truyền thống. Ngoài tài năng vĩ đại về sáng tác và có kỹ thuật cao siêu, ông còn là một họa sĩ giỏi, một nghệ sĩ piano, nhạc trưởng, một giáo sư, là con mọt sách am hiểu sâu sắc về văn chương cổ điển đến mức được thi sĩ thiên tài Goethe hết sức quý mến và coi như bạn vong niên (Goethe hơn Mendelssohn 60 tuổi).

Nhưng khác với Dương Quá lênh đênh cô khổ từ nhỏ, Mendelssohn sống cuộc đời khá giả sung sướng, thuận lợi trong cả cuộc sống và sự nghiệp, đáng tiếc là trời không cho ông sống thọ, mới 38 tuổi thì mất.

Không rõ thực hư ra sao nhưng có thuyết kể rằng, một ngày Mendelssohn rất hào hứng đi chợ với vợ để mua thịt lợn đã chế biến thành xúc xích, dăm bông, thịt xông khói – thứ đồ ăn khoái khẩu của người Đức. Họ mua rất nhiều.

Về đến nhà, Mendelssohn thấy hơi đói, bèn lấy xúc xích ra chén, bất đồ ông nhìn xuống mảnh giấy mà người bán thịt đã dùng để gói xúc xích và rồi há hốc miệng. “Trời ơi! Cái gì thế này?”. Thứ mà ông nhìn thấy là một nhạc phổ tinh diệu, vượt trên cả sáng tác của Mendelssohn và các nhạc sĩ khác mà ông biết, cứ như nhạc phổ “Tiếu Ngạo Giang Hồ” của Lưu Chính Phong & Khúc Dương không bằng. Suýt chút nữa cây xúc xích cầm trên tay ông rớt xuống đất.

Ngay lập tức Mendelssohn vơ vội áo khoác, chạy thật nhanh đến hàng thịt, đòi mua lại tất cả giấy bọc thịt lợn khiến cho anh chủ hàng thịt vô cùng bối rối. Thử tưởng tượng chúng ta ngày nay đi ăn xôi sáng mà không mua xôi, cứ đòi mua giấy báo gói xôi thì cô hàng xôi sẽ nghĩ gì?

Rốt cuộc, Mendelssohn cũng thu thập được tất cả những tài liệu ông muốn từ cửa hàng thịt lợn, và từ những mảnh nhạc phổ rải rác này, ông đã phục dựng nên một tác phẩm âm nhạc vĩ đại mang tên “Thánh Matthew thọ nạn”. Chính là của một nhạc sĩ mang tên Johann Sebastian Bach (đọc là Bắc).

Vậy Bach có lai lịch thế nào?

Bach có ảnh hưởng sâu sắc đến âm nhạc của Mozart, điển hình là trong bản giao hưởng cuối cùng “Requiem” của Mozart, được coi như sự kế tục xuất sắc bản “Mass in B Minor” của Bach.

Còn Beethoven thì nói rằng: “Bach không phải là con suối, Bach là đại dương.” (Bach trong tiếng Đức là con suối).

Không quá khi nói rằng, Bach đặt nền móng cho mọi thứ trường phái, mọi loại chủ nghĩa trong âm nhạc.

Về số lượng, số tác phẩm nhạc cổ điển của Bach chính ở tầm “Độc Cô Cầu Bại”: ít nhất 1080 tác phẩm, trong khi Mozart có tổng cộng 626 tác phẩm, một phần vì ông mất sớm. Còn Beethoven có 343 tác phẩm, như thế cũng đã là thành tích đời sau không vượt được.

Về chất lượng, trong khi Mozart có những tác phẩm chưa đạt, Beethoven cũng vậy, thì không hề có tác phẩm nào của Bach được làm qua loa, mà được duy trì ở tiêu chuẩn rất cao và đều là các tác phẩm lớn, trường độ dài, chứ không phải tiểu phẩm. Chúng cũng rất khó chơi vì có độ phức tạp cao, hầu như chỉ một mình Bach diễn tấu được. Ngày nay, không có nhiều nghệ sĩ biểu diễn có thể hoàn thành xuất sắc các tác phẩm của Bach. Chẳng phải một Độc Cô Cầu Bại là gì?

Nhưng cũng chính vì vậy, và cũng một phần vì Bach chủ yếu chỉ chơi ở cung đình và giáo đường suốt cả đời mình, và những người có thể nghe các tác phẩm của ông chỉ giới hạn ở tầng lớp trên của xã hội… nên tiếng tăm của Bach không lan rộng khắp Châu Âu.

Rồi những bất hạnh cuộc đời chưa từng buông tha người nhạc sĩ vĩ đại. Bach sống nghèo túng, từng mất vợ, mất một nửa số con (10/20). Khi ông mất năm 65 tuổi, vợ thứ hai của ông và các con được nhà tế bần cứu trợ. Trong bối cảnh đó, nhạc của ông bị thất lạc cũng là điều dễ hiểu.

Chỉ đến khi Mendelssohn tái khám phá âm nhạc của Bach thì tên tuổi của Bach mới vang lừng từ bấy đến nay. Bản thân Mendelssohn cũng nhờ việc khai quật, chỉnh lý, quảng bá âm nhạc của Bach mà cũng trở nên một đại sư trong âm nhạc cổ điển phương Tây, thời kỳ lãng mạn.

Chẳng phải là giống như quan hệ giữa Dương Quá và Độc Cô Cầu Bại là gì?

Hai nhạc sĩ còn có chung mối đồng cảm, Mendelssohn bảo vệ các giá trị truyền thống, cổ điển; còn Bach thì vì sống ở thời kỳ trước, ông mạnh mẽ bảo vệ tín ngưỡng, có lòng tôn sùng Thiên Chúa, lấy âm nhạc làm phương tiện vinh danh Thiên Chúa.

Ở cuối mỗi bản thảo âm nhạc của Bach đều có viết ba chữ cái: S.D.G (Soli Deo Gloria), là chữ viết tắt tiếng Đức, nghĩa là: “All Glory to God – Mọi vinh diệu đều tôn vinh Chúa”. Bản thân Bach từng nói, tài năng âm nhạc của ông đến từ đức tin.

Có những bản nhạc mà chúng ta nghe đã quen tai nhưng không chắc đã để ý rằng nó là của Bach. “Air on the G string scherzo” là một nhạc phẩm như thế. Nhạc phẩm này được bác sĩ người Nhật Masaru Emoto sử dụng trong thí nghiệm tạo tinh thể nước, đương nhiên nó tạo ra một tinh thể nước tuyệt đẹp (như hình dưới đây).

Mời quý vị thưởng thức “Air on the G string scherzo” của Johann Sebastian Bach

https://www.youtube.com/watch?v=pzlw6fUux4o

và tuyệt phẩm “Thánh Mathew thọ nạn” của Mendelssohn, giống như công phu tu luyện dưới thác nước, trong sóng biển của Dương Quá nhờ ngộ ra từ triết lý võ học của Độc Cô Cầu Bại.

https://www.youtube.com/watch?v=P21qlB0K-Bs

PS: Các ông nào được vợ nhờ tháp tùng đi chợ, nhất là vào mua thịt mua bánh thì đừng có lười nhé, biết đâu gặp may như Mendelssohn nhỉ :D :D :D

Address

Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hồi Hương posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share