Đại Lý Thuế - Kế Toán - Tư Vấn Luật AFCT

Đại Lý Thuế - Kế Toán - Tư Vấn Luật  AFCT AFCT - ACCOUNTING - FINANCE - CONSULTANCY -TRAINING
- Thủ tục thuế - Tư vấn luật - Thủ tục vay vốn ngân hàng - Đào tạo AFCT UY TÍN HÀNG ĐẦU GẮN KẾT DÀI LÂU.

ĐẠI LÝ THUẾ - ĐÀO TẠO THỰC HÀNH KẾ TOÁN
TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN AFCT
- Thủ tục thuế: Lập báo cáo tài chính - Quyết toán thuế năm - Khai thuế - Hoàn thuế(chịu trách nhiệm giải trình với cơ quan thuế)
- Đào tạo: Dạy nghề kế toán tổng hợp các loại hình doanh nghiệp.
- Tư vấn luật: Thủ tục thành lập doanh nghiệp - Thay đổi thông tin doanh nghiệp - Tạm ngừng, đóng mã số thuế doanh nghiệp.
- Thủ tục vay cốn, ngân hàng: Lập báo cáo vay vốn - Báo cáo ngân hàng.

Tổng cục Thuế: Có thể nộp phí trước bạ theo phương thức điện tử từ năm 2016Ngày 16/12/2015Sau khi triển khai với doanh n...
19/12/2015

Tổng cục Thuế: Có thể nộp phí trước bạ theo phương thức điện tử từ năm 2016
Ngày 16/12/2015
Sau khi triển khai với doanh nghiệp và đạt tỷ lệ đăng ký hơn 92%, cơ quan thuế cho biết sẽ thí điểm phương thức nộp thuế điện tử với các cá nhân, trong đó hỗ trợ cả hình thức nộp phí trước bạ cho xe máy, ôtô và nhà đất.
Ông Nguyễn Đại Trí - Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.
Thông tin trên được Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Nguyễn Đại Trí cho biết tại Diễn đàn Thanh t oán điện tử Việt Nam (VEPF 2015) do Ngân hàng Nhà nước và báo VnExpress tổ chức diễn ra sáng 16/12 tại Hà Nội. Chia sẻ tại Diễn đàn, ông Nguyễn Đại Trí cho biết, từ đầu năm 2016, cơ quan này sẽ thí điểm ủy nhiệm thu thuế đối với hộ kinh doanh nộp thuế theo phương thức khoán.
Nhóm đối tượng là cá nhân, hộ kinh doanh cá thể chiếm tỷ trọng lớn trong số người nộp thuế cả nước. Do đó, việc triển khai các thủ tục hành chính về thuế thông qua giao dịch điện tử, trong đó khai thuế và nộp thuế điện tử là một nhiệm vụ lớn của ngành thuế. "Mục tiêu trước tiên là khai thuế và nộp thuế điện tử đối với một số đối tượng phát sinh giao dịch với cơ quan thuế nhiều mà chưa có dịch vụ điện tử hỗ trợ", ông Trí cho hay.
Cụ thể, hộ kinh doanh sẽ được quản lý theo phương thức điện tử và nộp thuế bằng dịch vụ thanh toán điện tử Bankplus của ngân hàng, nộp qua thẻ, nộp qua Internet banking... Không chỉ vậy, từ tháng 7/2016, ngành thuế sẽ thí điểm việc khai và nộp thuế điện tử với cá nhân khai lệ phí trước bạ ôtô, xe máy, cho thuê nhà và nộp các khoản thu liên quan đến đất.
Sau khi thí điểm, từ năm 2017 cơ quan này sẽ triển khai trên toàn quốc việc nộp thuế điện tử với cá nhân, hộ kinh doanh ở các lĩnh vực như: lệ phí trước bạ tài sản phải đăng ký, cho thuê tài sản, hộ kinh doanh qua mạng.
Chia sẻ tại Diễn đàn, ông Nguyễn Đại Trí cũng thông tin, đến hết tháng 11, đã có hơn 478.000 doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử qua Cổng thông tin của Tổng cục Thuế, chiếm tỷ lệ 92,5% số doanh nghiệp đang hoạt động. Trong đó, 438.000 doanh nghiệp đăng ký nộp điện tử thành công tại các ngân hàng thương mại. Đại diện ngành thuế cũng cho hay, hiện có 122.700 tỷ đồng ngân sách Nhà nước được thu qua cổng điện tử của cơ quan này.
Ngành thuế đã thực hiện thí điểm thu thuế điện tử với các doanh nghiệp từ tháng 2/2014. Đến nay, 43 ngân hàng đã ký cam kết cung cấp dịch vụ, trong đó 27 nhà băng trong nước và 6 ngân hàng nước ngoài đã chính thức kết nối và hỗ trợ người nộp thuế điện tử.
Bên cạnh những thuận lợi, việc triển khai nộp thuế điện tử theo vị đại diện này, cũng gặp không ít khó khăn từ nhiều phía. Doanh nghiệp đăng ký mới và nghỉ kinh doanh liên tục, thường xuyên vào ra khoảng 10% nên cơ quan thuế phải liên tục vận động doanh nghiệp tham gia đăng ký và nộp thuế điện tử. "Ngoài ra, các doanh nghiệp chưa quen, chưa thật sự yên tâm nên vẫn duy trì phương thức nộp thuế thủ công bằng tiền mặt. Sự phối hợp chưa đồng bộ trong thời gian đầu giữa cơ quan Thuế - Ngân hàng – Kho bạc...", ông Trí cho hay.
http://gdt.gov.vn/wps/portal/home/news/detail…
Ảnh của Dam Linh.

16/12/2015

ĐẠI LÝ THUẾ SẼ PHÁT TRIỂN

Đội ngũ đại lý thuế quá mỏng, chưa phát huy được hiệu quả
Ngày 16/12/2015

Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội tư vấn thuế Việt Nam, cho biết so với hơn 500.000 doanh nghiệp thuộc đủ mọi thành phần kinh tế đang hoạt động trên thị trường và đóng thuế “thực sự” cho ngân sách Nhà nước, đội ngũ các đại lý thuế dường như quá mỏng, chưa phát huy được hiệu quả mong muốn, thậm chí chưa đáp ứng được với yêu cầu thực tế đặt ra.

Thể trạng non, yếu

Trên thực tế, các đại lý thuế chủ yếu phân bổ ở những thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Quảng Ninh... và tồn tại, phát triển nhờ vào các hoạt động ngoài làm dịch vụ thủ tục về thuế.

Tính đến tháng 11, cả nước có 256 đại lý thuế đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế. Sự ra đời và phát triển của hệ thống các đại lý thuế nhằm hỗ trợ người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế một cách nhanh chóng, thuận tiện và đúng quy định pháp luật. Qua đó cắt giảm thời gian nộp thuế, cải cách thủ tục hành chính thuế, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Xét ở góc độ khác, đại lý thuế chính là cánh tay nối dài, giúp các cơ quan thuế chủ động tiếp cận doanh nghiệp, đồng thời tăng cường hiệu quả của quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế.

Cho dù, các đại lý thuế và những cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này đòi hỏi phải vừa tinh thông nghiệp vụ thuế, hiểu rõ kế toán tài chính doanh nghiệp, kế toán thuế, vừa phải cập nhật kiến thức vĩ mô cũng như chính sách thuế... để nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo tính chính xác, trung thực, khách quan trong hành nghề, cũng như không thông đồng với người nộp thuế và các cán bộ thuế... Tuy nhiên, vai trò và tầm quan trọng của các đại lý thuế chưa thực sự được hiểu đúng và đánh giá cao, bà Cúc nhấn mạnh.

Theo phản ánh của nhiều công ty đại lý thuế, vướng mắc lớn nhất đối với họ hiện nay là thiếu hành lang pháp lý cần thiết, quy định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của đại lý thuế. Việc quảng bá, giới thiệu về các đại lý thuế và những lợi ích mà đại lý thuế mang lại cũng chưa được coi trọng và đầu tư nên người dân và doanh nghiệp hiểu biết về đại lý thuế còn rất mơ hồ, dẫn tới tâm lý hoài nghi, thiếu tin tưởng.

Ngoài ra, ngành thuế cũng chưa có chủ trương, chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ của các đại lý thuế, cũng như chưa có cơ chế định mức và chế độ hỗ trợ cần thiết đối với các đại lý thuế trong việc tiếp cận khách hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng thị trường. Bởi vậy mà trong nhiều năm qua, sự phát triển và tăng trưởng về số lượng của các đại lý thuế còn rất chậm.

Từ thực tế của doanh nghiệp, bà Nguyễn Thị Hồng Hoa, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Công ty cổ phần đại lý thuế và dịch vụ tư vấn Đông Á, cho biết hoạt động của doanh nghiệp ngày càng khó khăn do chủ yếu dựa vào nguồn thu phí từ làm dịch vụ thuế. Do tiết kiệm chi phí nên các doanh nghiệp nộp thuế thường tận dụng đội ngũ kế toán để đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau, kể cả các thủ tục liên quan tới thuế. Doanh nghiệp cũng có tâm lý sợ để lộ thông tin về bí mật sản xuất kinh doanh, nên cũng dễ hiểu là họ không mặn mà sử dụng dịch vụ mà đại lý thuế cung cấp.

Cũng chính vì hiểu biết hạn chế, nên dù vô tình hay cố ý đã có rất nhiều doanh nghiệp phải trả giá và bị xử phạt do vi phạm quy định thu nộp thuế với Nhà nước hoặc trốn thuế.

Thêm nữa, về nguyên tắc các đại lý thuế không được làm công tác sổ sách kế toán hay rà soát báo cáo tài chính… nên khó tạo điều kiện cho các đại lý thuế có cơ sở theo sát hoạt động của doanh nghiệp. Nếu quy định này được thay đổi, sẽ là hướng mở cho các đại lý thuế tăng cường chức năng hoạt động, nâng cao uy tín, sức ảnh hưởng đối với doanh nghiệp.

Với xu hướng không được tạo điều kiện thuận lợi như hiện nay, e rằng, hệ thống các đại lý thuế sẽ “teo đi” chứ khó bề phát triển như mong đợi và đó là điều cần phải xem xét để được điều chỉnh sớm, bà Hoa nhấn mạnh.

Cần sớm “mở cửa”

Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động của các đại lý thuế rất được tạo điều kiện phát triển. Thậm chí, họ được cơ quan thuế giao cho một phân khúc khách hàng nào đó để đảm nhiệm như thực hiện các hợp đồng, thủ tục về thuế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc siêu nhỏ.

Với nhiều năm làm việc ở cương vị Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Thuế Nguyễn Thị Cúc cho biết, với tỷ lệ 93% số người nộp thuế thực hiện khai thuế qua đại lý thuế… thì số lượng nhân viên đại lý thuế ở Nhật Bản hiện nay là 72.000 người, ở Đức là 79.000 người.

Để thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển hệ thống đại lý thuế ở Việt Nam, phấn đấu đến giai đoạn 2016-2020 sẽ có ít nhất 6.000 người được cấp chứng chỉ hành nghề đại lý thuế; khoảng 50.000 doanh nghiệp sử dụng dịch vụ đại lý thuế và tối thiểu 90% số doanh nghiệp hài lòng với chất lượng dịch vụ do đại lý thuế cung cấp… thì ngành thuế cần sớm “mở cửa” và tạo môi trường thông thoáng để các đại lý thuế phát triển.

Nhiều đại lý thuế bày tỏ mong muốn, các chi cục thuế địa phương có thể cung cấp cho doanh nghiệp về số lượng, danh tính, địa chỉ và chức năng, nhiệm vụ của các đại lý thuế trên địa bàn của mình.

Cũng theo bà Nguyễn Thị Hồng Hoa, cần tăng cường tuyên truyền sâu rộng để các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ hiểu biết tác dụng và lợi ích khi sử dụng dịch vụ của đại lý thuế - những tổ chức được Nhà nước công nhận và đảm bảo về chứng chỉ hành nghề chuyên nghiệp, về chất lượng dịch vụ mà lại tiết kiệm chi phí hơn so với việc doanh nghiệp phải thuê kế toán hoặc tổ chức kế toán… Việc dễ dàng tiếp cận thông tin được hỗ trợ về thuế sẽ rất hữu ích đối với doanh nghiệp nộp thuế và đối với chính các cơ quan đại lý thuế, đồng thời cũng là giải pháp cơ bản để thực hiện mục tiêu cải cách thủ tục hành chính mà ngành thuế đang phấn đấu thực hiện trong nhiều năm qua.

Với góc nhìn khách quan, bà Hoàng Thị Lan Anh, Phó Vụ trưởng, Phó Trưởng Ban Cải cách và hiện đại thuế (Tổng cục Thuế), cho rằng để tồn tại và phát triển, các đại lý thuế cần không ngừng nâng cao chất lượng và cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ. Bởi với cơ chế thị trường như hiện nay, ngành thuế không thể có những cơ chế cá biệt, ưu đãi cho từng trường hợp. Các đại lý thuế cần chủ động đa dạng hóa khách hàng, sáng tạo thêm nhiều hình thức phục vụ để củng cố lợi thế cạnh tranh, từ đó xây dựng uy tín và thương hiệu cho đại lý thuế của mình, cũng như mở rộng thị trường khách hàng./.

Hà Nội: 25 đơn vị nộp 728 tỷ 54 triệu đồng tiền nợ thuế sau khi bị công khai danh tínhNgày 14/12/201525 đơn vị nộp 728 t...
15/12/2015

Hà Nội: 25 đơn vị nộp 728 tỷ 54 triệu đồng tiền nợ thuế sau khi bị công khai danh tính
Ngày 14/12/2015
25 đơn vị nộp 728 tỷ 54 triệu đồng tiền nợ thuế sau khi bị công khai danh tính

Theo tin từ Cục Thuế TP. Hà Nội, tính đến ngày 08/12/2015, sau khi bị công khai danh tính, đã có 25 đơn vị thu xếp nguồn tài chính và nộp hết nợ thuế vào NSNN với số tiền 728 tỷ 54 triệu đồng. Trong đó, có 12 dự án đã nộp hết nợ tiền sử dụng đất và 13 doanh nghiệp nộp hết nợ thuế, phí.

Ban lãnh đạo Cục Thuế TP. Hà Nội thống nhất chỉ đạo lãnh đạo cơ quan thuế trực tiếp đến đôn đốc thu hồi nợ thuế tại các DN. Ảnh: PV

Từ đầu năm 2015 đến nay, Cục Thuế TP. Hà Nội đã phối hợp với cơ quan thông tấn báo chí đăng công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và trang website của cơ quan thuế 6 đợt, với 522 đơn vị nợ thuế lớn với số tiền thuế nợ 5.356 tỷ đồng và 40 dự án nợ tiền sử dụng đất lớn với số tiền nợ là 2.340 tỷ đồng.

Việc Cục Thuế TP. Hà Nội triển khai đồng bộ các giải pháp trong công tác quản lý, đôn đốc thu hồi nợ thuế đã đạt được hiệu quả tích cực, đảm bảo tính công khai, minh bạch, công bằng, tác động tích cực đến các doanh nghiệp nợ thuế khác tự giác nộp số thuế nợ đọng.

Kết quả 10 tháng đầu năm 2015 đã thu nợ được 8.137 tỷ đồng. Riêng đối với các đơn vị thuộc danh sách công khai nợ thuế, đã có 25/562 đơn vị nộp hết nợ thuế vào NSNN, trong đó 12/40 dự án nộp hết số thuế nợ và 13/522 doanh nghiệp nộp hết nợ thuế, phí.

Để đôn đốc thu hồi nợ và giảm nợ mới phát sinh, bên cạnh những biện pháp đã và đang triển khai hiệu quả trong thời gian qua, Cục Thuế Hà Nội còn thành lập Ban Chỉ đạo đôn đốc thu nộp NSNN năm 2015 tại Văn phòng cục và 30 chi cục thuế các quận, huyện, thị xã để chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc thu ngân sách, thu nợ.
Đồng thời, lãnh đạo cơ quan thuế còn trực tiếp đến đôn đốc tại trụ sở doanh nghiệp nợ thuế để thu các khoản nợ vào NSNN.

14/12/2015

Miễn thuế xuất nhập khẩu cho hàng hóa dùng để phát triển năng lượng tái tạo

(TCT online) - Quy định này được nêu rõ trong Quyết định 2068/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.



Quyết định cũng quy định rõ hàng hóa nhập khẩu là nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để phục vụ sản xuất của dự án theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Bên cạnh đó, việc miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các dự án phát triển và sử dụng nguồn năng lượng tái tạo được thực hiện như đối với dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế.

Ngoài ra, các dự án phát triển và sử dụng nguồn năng lượng tái tạo được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật hiện hành áp dụng đối với dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư.

Một trong những ưu đãi nữa là ưu tiên cho các nghiên cứu liên quan đến phát triển và sử dụng tài nguyên năng lượng tái tạo trong lĩnh vực phát triển khoa học và công nghệ và phát triển công nghiệp công nghệ cao; bố trí kinh phí từ các quỹ để hỗ trợ các nghiên cứu khoa học và công nghệ tại các dự án thí điểm, dự án công nghiệp hóa cho phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo, thúc đẩy cải tiến công nghệ liên quan đến sự phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo, giảm chi phí sản xuất của các sản phẩm năng lượng tái tạo và nâng cao chất lượng sản phẩm.

HÃY SỐNG NHIỆT HUYẾT VÌ TA ĐANG CÓ TUỔI TRẺ !HÃY ĐỌC , SUY NGẪM VÀ HÀNH ĐỘNG KHI BẠN CÒN CÓ THỂ .TS Nguyễn Bá Hải được g...
13/12/2015

HÃY SỐNG NHIỆT HUYẾT VÌ TA ĐANG CÓ TUỔI TRẺ !
HÃY ĐỌC , SUY NGẪM VÀ HÀNH ĐỘNG KHI BẠN CÒN CÓ THỂ .

TS Nguyễn Bá Hải được giữ lại làm việc ở Hàn Quốc với mức lương 5.000 USD nhưng anh từ chối. Về Việt Nam, anh đã giúp đỡ cho cộng đồng bằng chính những sáng chế của mình, nổi bật là dự án kính "Mắt thần" dành cho người khiếm thị.
Tốt nghiệp Thủ Khoa ngành Cơ khí động lực ở trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP. HCM và nhận được học bổng chính phủ Hàn Quốc du học chương trình sau đại học, anh Nguyễn Bá Hải (SN 1983 tại Đông Sơn, Thanh Hóa) đã hoàn thành và báo cáo tốt nghiệp Tiến sĩ khi mới 28 tuổi với 5 phát minh sáng chế quốc tế với giải thưởng xuất sắc.

TS Nguyễn Bá Hải được giữ lại Hàn Quốc làm việc với mức lương 5.000 USD nhưng anh từ chối để trở về Việt Nam với ước mơ cống hiến và thay đổi đất nước. Về lại Việt nam, anh giúp đỡ cho cộng đồng bằng chính những sáng chế của mình. Từ sản phẩm đầu tiên năm 2007, đến nay anh đã có 5 phát minh được cấp giấy chứng nhận. Trong đó có sản phẩm thiết bị dẫn đường cho người khiếm thị mang tên kính "Mắt thần" giúp tránh được các vật cản để di chuyển dễ dàng hơn. Đã có nhiều doanh nghiệp muốn mua toàn bộ dữ liệu và chuyển giao sáng chế quyền sản xuất kính "Mắt thần" với giá hàng tỷ đồng nhưng anh không bán.

Hiện tại anh đang là Trưởng Khoa Sáng tạo và Đổi mới của trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật. Trong lúc cuộc tranh luận về việc các nhà sáng chế, nhà khoa học nên ở nước ngoài để phát triển chuyên môn hay trở về Việt Nam cống hiến, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với TS Nguyễn Bá Hải - người đã về nước theo "tiếng gọi từ con tim".

Xin chào TS Nguyễn Bá Hải, được học tập và làm việc trong môi trường quốc tế, với những giáo sư giỏi khắp thế giới, cơ sở vật chất đầy đủ để phát triển chuyên môn, vì sao anh vẫn chọn quay về Việt Nam?

Đúng là ở bên Hàn Quốc, tôi có cơ hội làm việc trong những công ty lớn, có mức thu nhập cao hơn, nhưng tôi nghĩ mình có phát triển được hay không thì còn tùy vào hoàn cảnh của mỗi người.

Môi trường quốc tế là môi trường chuyên nghiệp, nó có thể đủ đầy về mọi mặt nhưng với tôi nó chưa hẳn là môi trường tốt. Ngôi trường Đại học Sư phạm kỹ thuật nơi tôi được đào tạo và được một người thầy truyền cảm hứng làm khoa học - mới là một môi trường tốt nhất để tôi có thể nghiên cứu, giảng dạy và tìm được sợi dây kết nối giữa việc dạy học với nghiên cứu.

Năm 2010, tôi không hiểu sao khát khao về nước của mình lại mạnh mẽ đến thế, tôi thấy như tim mình đang gọi về đi, về với trường xưa, với gia đình đi. Thật ra tôi không phải là số ít những người trở về, nhiều bạn bè, anh em đồng nghiệp của tôi sau thời gian học thành tài nơi nước bạn thì cũng quay về Việt Nam. Họ đang giữ vị trí quan trọng trong doanh nghiệp, hoặc mở dịch vụ kinh doanh theo chuyên ngành của mình tại quê hương.

Mức lương 5.000 USD là mức lương đáng mơ ước với nhiều người, còn với anh, nó cũng không có ý nghĩa gì sao?

Thời điểm này, ở ngay đất nước chúng ta, tôi cũng nhận được những lời mời về làm việc cho các tổ chức, công ty với mức lương 5.000 USD. Rất nhiều lời mời, cả chính phủ các nước cho những dự án nghiên cứu của tôi. Nhưng tôi từ chối hết. Vì sao? Vì hiện tại nếu chỉ tính cá nhân tôi, thì chỉ cần 2 triệu/ tháng như một sinh viên là đủ sống ở thành phố này để theo đuổi đam mê của mình. Chính vì thế khi tôi làm được hơn 2 triệu thì tôi đã thấy mình đã là người tự do nhất thế giới rồi, nên tôi không muốn làm thuê cho ai cả.

Vì sao TS Nguyễn Bá Hải từ chối mức lương 5.000 USD ở Hàn Quốc để trở về Việt Nam? - Ảnh 1.
Mỗi người chỉ sống 1 cuộc đời duy nhất, nên phải sống sao cho đáng sống, phải làm tất cả những điều mình thích, muốn như thế thì chúng ta không nên có một người chủ, một người kiểm soát chúng ta. Tôi có thể hợp tác với bất kỳ người nào, từ cá nhân, tổ chức, chính phủ nhưng tôi không thể trở thành một người bị kiểm soát tâm hồn và thời gian được.

Các nhà khoa học trong nước cho rằng họ cần một cơ chế, một môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp mà ở Việt Nam không thể đáp ứng được. Anh nghĩ sao về điều này?

Tôi nghĩ đây là vấn đề thời gian, cơ chế nước ta sẽ còn thay đổi để hoàn thiện. Tuy nhiên, với tư duy nhà khoa học, mỗi người phải tìm cách để giải quyết, mà cách tốt nhất tôi nghĩ là tự thân vận động, hợp tác với bạn bè, đồng nghiệp, doanh nghiệp, tranh thủ những hỗ trợ từ nhà nước, nhà trường, sao cho phù hợp để vẫn giữ lửa nghiên cứu như lúc ở nước ngoài.

Vì sao TS Nguyễn Bá Hải từ chối mức lương 5.000 USD ở Hàn Quốc để trở về Việt Nam? - Ảnh 2.
Anh nói Nhà trường luôn tạo điều kiện cho anh nghiên cứu và một người thầy mà anh luôn biết ơn, có phải anh đang nhắc đến thầy Hiệu trưởng Đỗ Văn Dũng?

Đúng vậy, thầy Dũng là người tôi luôn biết ơn và cũng là người truyền cảm hứng, động lực sống cho tôi rất nhiều. Ngày tôi tốt nghiệp và nhận được học bổng chính phủ Hàn Quốc du học chương trình sau đại học, thầy biết gia đình tôi nghèo khó nên đã dúi vào tay tôi 400 USD để phòng thân. Tôi không muốn lấy nhưng thầy bảo xem như thầy cho em vay, đi du học thành tài về, em trả thầy cũng được. Lúc học xong cao học ở Hàn Quốc, tôi đã rất muốn về Việt Nam nhưng thầy động viên tôi nên tiếp tục học lên Tiến sĩ vì cơ hội không đến lần thứ 2 trong đời.

Những ngày bên nước bạn cũng có lúc tôi gặp khó khăn, thầy Dũng viết thư cho tôi và nói vỏn vẹn vài dòng "Cuộc sống luôn cần những lúc trắc trở, nhưng thầy tin em làm được!", vậy mà tôi như được tiếp thêm sức mạnh tinh thần để vượt qua tất cả.

Khi du học về, tôi xin vào giảng dạy ở ngôi trường đã nuôi dưỡng đam mê và ước mơ của mình, tôi trả lại thầy 400 USD ngày trước nhưng thầy bảo thầy... không nhớ đã cho tôi mượn, vì đã 4 năm rồi. Tôi nghĩ nhờ những người thầy như thế trong cuộc sống đã vun đúc cho tôi những cảm xúc, những niềm tin để tôi vững bước.

Có điều gì anh trông đợi và hy vọng vào lớp trẻ tương lai, cụ thể là những người trẻ đam mê kỹ thuật sáng tạo và luôn ấp ủ giấc mơ thay đổi cuộc sống bằng các sáng chế phục vụ cộng đồng?

Trước giờ tôi luôn trăn trở vì sao chúng ta cứ phải nhập những đồ dùng công nghệ cao từ nước ngoài mà không tự mình chế tạo ra chúng. Vì thế tôi mong muốn góp sức cùng cộng đồng đặt viên gạch khó khăn đầu tiên cho những sản phẩm công nghệ mới ở Việt Nam, để người trẻ nhìn theo đó tiếp tục chung tay xây dựng. Chúng ta đã nghe về Việt Nam - một quốc gia chuyên xuất khẩu gạo, tôm, cá, nhưng đến một ngày nào đó, tôi hy vọng mình sẽ đọc được bản tin rằng giới trẻ Việt đã xuất khẩu rô bốt cho các nước Mỹ, Nhật... Đó sẽ là ngày vui nhất trong đời tôi.

Quay trở lại với kính "Mắt thần" dành cho người khiếm thị, cũng như tất cả những sáng chế của anh từ trước đến nay, điều gì khiến anh nghĩ rằng mình có thể thành công khi bắt tay vào chế tạo một sản phẩm nào đó?

Tôi may mắn vì khi làm gì, trong tôi luôn có một niềm tin mãnh liệt là không thể thất bại trừ khi mình không dấn thân cho nó, tôi chưa thấy cái gì con người suy nghĩ ra mà không làm được cả. Ví dụ ngày xưa người ta ước mơ bay lên trời và họ chế tạo ra máy bay, họ muốn từ Việt Nam có thể nói chuyện với người bên Mỹ, và họ phát minh ra điện thoại. Chỉ cần nghĩ mình sẽ làm được, thì chắc chắn mình làm được nếu dấn thân cho điều mình khát vọng.

Vì sao TS Nguyễn Bá Hải từ chối mức lương 5.000 USD ở Hàn Quốc để trở về Việt Nam? - Ảnh 3.
Tôi sinh ra trong gia đình thuần nông và kinh tế khó khăn, ba mẹ chưa bao giờ nghĩ đến việc có đủ tiền cho các anh em tôi ăn học ở các trường học phí quá cao, huống gì đến chuyện du học ở nước ngoài. Vậy mà đến giờ tôi đã được đi học, làm việc tại 7 nước rồi, số tiền dành cho những chuyến đi đó tính ra cũng cả chục tỷ đồng, và đều từ các nhà tài trợ là tổ chức, chính phủ các nước. Nếu ngày xưa tôi cứ an phận, cho rằng điều kiện nhà mình không có, mình không phấn đấu, thì làm sao được như ngày hôm nay.

Vì sao TS Nguyễn Bá Hải từ chối mức lương 5.000 USD ở Hàn Quốc để trở về Việt Nam? - Ảnh 4.
Được chính phủ các nước tài trợ, tôi mới hiểu rằng cá nhân có thể làm việc trực tiếp với chính phủ các nước nếu trong công việc chúng ta lấy hiệu quả làm đầu. Ngay cả ở Việt Nam cũng thế, chính vì vậy trong 10 phút đối thoại với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tôi không hồi hộp mà chỉ nghĩ đơn giản là đang nói chuyện với một đồng nghiệp của mình, rằng việc này rất quan trọng, chúng ta cần nói chuyện với nhau và Thủ tướng sẽ là người tiếp tục câu chuyện.

Anh đã dành 4 năm mày mò nghiên cứu chỉ để đổi lấy 10 phút thuyết phục Thủ tướng đầu tư triệu đô cho dự án kính "Mắt thần" của mình. Điều này cho thấy một cá nhân vẫn có thể phối hợp cùng cơ quan, ban ngành nhà nước, chính phủ để cùng thay đổi xã hội tích cực hơn, thế nhưng không có nhiều người dân thật sự tin vào điều đó, đặc biệt là giới trẻ, anh có nghĩ rằng người trẻ đang ngày càng thờ ơ với sự phát triển chung của xã hội vì cho rằng mình khó có thể thay đổi được điều gì đó cho đất nước?

Tôi nghĩ chỉ có một phần thôi, họ không có niềm tin vì họ cho rằng mọi thứ xảy ra trong cuộc đời không có kết nối với nhau. Tôi ví dụ khi bạn lưu thông trên đường và bị một người điều khiển xe máy tông vào. Dù bạn đi đúng luật nhưng người ta đã tông vào bạn thì có lỗi của bạn ở đó. Lỗi ở đây là lỗi nào? Là vì bạn không góp sức để xây dựng nền tảng văn hóa vững chắc và nhân văn cho toàn xã hội, chính vì thế nên bạn là nạn nhân của nền văn hóa như vậy.

Chúng ta không nên thờ ơ với những thứ tác động lên mình dù chỉ là gián tiếp. Việc chung của xã hội cũng chính là việc của mỗi cá nhân. Đừng bỏ cuộc vì nghĩ mình khó thay đổi một điều gì đó.

12/12/2015

Tăng nhiều loại thuế tài nguyên từ 1/7/2016
Ngày 11/12/2015
Ngày 10/12, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã bàn về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 về việc ban hành biểu thuế suất thuế tài nguyên.


Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân lấy ý kiến của thành viên UBTVQH tại phiên họp.

Điều chỉnh thuế để bảo vệ tài nguyên trong nước

Tại tờ trình, Chính phủ đề nghị điều chỉnh thuế suất đối với đa số các loại khoáng sản, tài nguyên. Theo đó, tăng thuế đối với một số loại khoáng sản kim loại, phi kim loại, nhóm nước tự nhiên. Đồng thời giảm thuế đối với nhóm sản phẩm từ rừng tự nhiên.

Giải trình về việc tăng thuế, Chính phủ cho biết nhóm khoáng sản kim loại, phi kim loại là loại tài nguyên không tái tạo, có giá trị kinh tế lớn. Tuy nhiên, việc khai thác một số khoáng sản vẫn chưa hiệu quả, gây lãng phí. Đa số các khoáng sản kim loại chưa được chế biến sâu. Một số loại khoáng sản phi kim loại cần phải hạn chế khai thác để đảm bảo sản xuất trong nước hoặc sử dụng các sản phẩm thay thế. Với nhóm nước thiên nhiên, nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng, trong khi việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước còn lãng phí, hiệu quả thấp, thiếu bền vững gây suy giảm nguồn tài nguyên nước.

Để góp phần bảo vệ, khai thác tài nguyên hợp lý, đảm bảo nguồn tài nguyên phục vụ nhu cầu trong nước thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó việc điều chỉnh mức thuế suất thuế tài nguyên là một giải pháp cần thiết, có tính khả thi. Điều này cũng phù hợp với chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng; về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường.

Đối với các sản phẩm của rừng tự nhiên, việc giảm thuế là để phù hợp với tiến trình đổi mới cơ chế quản lý, bảo vệ, khai thác và phát triển rừng theo Nghị quyết số 30 của Bộ Chính trị, trong đó đưa ra giải pháp:“Nghiên cứu giảm thuế suất thuế tài nguyên đối với gỗ khai thác rừng tự nhiên”.

Ngoài ra, hiện nay Việt Nam đã và đang thực hiện 10 Hiệp định thương mại quốc tế, chuẩn bị thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)…. Một trong những yêu cầu khi thực hiện các Hiệp định thương mại quốc tế và tham gia các thị trường thương mại quốc tế là phải cắt, giảm thuế xuất nhập khẩu. Theo kinh nghiệm quốc tế, các nước đã sử dụng chính sách thuế nội địa, trong đó có chính sách thuế tài nguyên để thay thế cho thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải cắt giảm theo các cam kết quốc tế. Do đó, việc sử dụng các chính sách thuế nội địa, trong đó có thuế tài nguyên để đảm bảo nguồn thu NSNN là một trong những công cụ tài chính hiệu quả và khả thi.

Cân nhắc việc giảm thuế với sản phẩm từ rừng tự nhiên

Theo ước tính của Chính phủ, với việc điều chỉnh mức thuế suất thuế tài nguyên lần này, với sản lượng, giá tính thuế như năm 2014, số thu thuế tài nguyên tăng khoảng 3.177,8 tỷ đồng so với số thu năm 2014.

Thảo luận tại phiên họp, đa số các thành viên UBTVQH đồng tình với sự cần thiết phải điều chỉnh Nghị quyết, tăng thuế suất với nhiều nhóm tài nguyên như khoáng sản kim loại, phi kim loại, nước tự nhiên….

Chủ tịch Hội đồng dân tộc Ksor Phước cho rằng tình hình kinh tế xã hội thời gian qua đã có nhiều bước ngoặt quan trọng như việc hội nhập ngày càng sâu, do đó các chính sách cũng phải được điều chỉnh kịp thời. Về việc tăng thuế một số tài nguyên khác, đặc biệt là tài nguyên nước, ông Ksor Phước cho rằng đây là cần thiết để bảo vệ nguồn tài nguyên của đất nước.

Tuy nhiên, các thành viên chưa thống nhất về việc giảm thuế với các sản phẩm từ rừng tự nhiên. Nhiều ý kiến lo ngại việc giảm thuế suất nhiều nhóm sản phẩm cùng lúc có thể khuyến khích khai thác rừng tự nhiên. Trong khi hầu hết rừng tự nhiên đã đóng cửa khai thác, việc giảm thuế có thể tạo hiệu ứng nên cần cân nhắc kỹ.

Trong khi đó, ủng hộ quan điểm giảm thuế, Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xã hội Trương Thị Mai cho rằng để bảo vệ, phát triển rừng cần thực hiện nghiêm quản lý Nhà nước đồng thời có chính sách thuế theo đúng định hướng. Việc giảm thuế sẽ khuyến khích người quản lý rừng phát triển rừng để tăng nguồn thu, đồng thời hỗ trợ cho người dân sinh sống gần rừng tự nhiên.

Kết thúc nội dung này, các thành viên UBTVQH đã biểu quyết nhất trí với phương án tăng thuế với các khoáng sản kim loại, phi kim loại và thiên nhiên như tờ trình của Chính phủ. Giữ nguyên thuế với sản phẩm từ rừng tự nhiên thuộc các nhóm 1,2,3, nghiên cứu giảm thuế với sản phẩm từ nhóm 4 trở đi. Thời gian áp dụng dự kiến từ 1/7/2016./.

Theo tờ trình, thuế suất với một số khoáng sản được điều chỉnh như sau (lộ trình áp dụng khác nhau):

Măng gan tăng từ 11% lên 14%; chì, kẽm tăng từ 10% lên 15%; Khoáng sản kim loại khác tăng từ 10% lên 15%; sắt tăng từ 12% lên 14%; Ti-tan tăng từ 16% lên 18% ; Vàng tăng từ 15% lên 17%; Đồng tăng từ 13% lên 15%; Bạch kim, bạc, thiếc tăng từ 10% lên 12%...

Cát tăng từ 11% lên mức trần 15%; cát làm thủy tinh tăng từ 13% lên mức trần 15%; Gờ-ra-nít tăng từ 10% lên 15%; Các khoáng sản không kim loại còn lại, trừ đá hoa trắng, than tăng thêm 3%. Riêng kim cương, ru-bi, sa-phia: tăng từ 22% lên 27%.

Đá hoa trắng tăng từ 9% lên mức trần 15%; Than tăng từ 7% lên 10% đối với than an-tra-xít hầm lò và than khác; tăng từ 9% lên 12% đối với than an-tra-xít lộ thiên, than nâu, than mỡ (mức trần theo Luật đối với than là 20%).

Nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp tăng từ mức sàn 8% lên mức trần 10%. Nước thiên nhiên dùng cho thủy điện tăng từ 4% lên 5%. Nước thiên nhiên dùng cho sản xuất kinh doanh, đối với nước dưới đất, tăng từ 3% lên 5% đối với nước dùng cho sản xuất nước sạch, tăng từ 5% lên mức trần 8% đối với nước dùng cho mục đích khác.

Nhóm hải sản tự nhiên, nhóm yến sào thiên nhiên, nhóm dầu thô và khí thiên nhiên, khí than giữ nguyên như hiện hành.

http://www.gdt.gov.vn/wps/portal/home/news/detail?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/gdt+content/sa_gdt/sa_news/sa_news_tax/2015-12/99369a49-5a0f-4393-9df9-fd2f378da3dc

Address

Đường Đào Duy Tùng, Thôn Đài Bi, Xã Uy Nỗ, Đông Anh
Hanoi

Telephone

0914504939

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đại Lý Thuế - Kế Toán - Tư Vấn Luật AFCT posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share