20/04/2020
Phát Bồ Đề Tâm - Sơ khởi của Phật tính.
Đức Ling Rinpoche (Kyabje Ling), một trong hai vị Thầy giáo thọ cao cấp nhất của Đức Đạt Lai Lạt Ma 14th đã giải thích ngắn gọn về Bồ Đề Tâm nhân buổi giảng pháp tại Ấn Độ năm 1979. Ni cô Thích Nữ Giác Anh đã thực hiện chuyển ngữ bài pháp này, xin trích lược bài chuyển ngữ để quý vị tham khảo.
--- Chính xác Bồ Đề Tâm là gì ?
Đó là tâm xác định mạnh mẽ sự mong cầu “vì lợi ích tất cả chúng sanh nên con phảithành tựu quả vị giác ngộ viên mãn”.
Nhưng Bồ Đề Tâm không chỉ có vậy, nếu chỉ lập đi lập lại những lời này thì quá dễ, nhưng thật ra Bồ đề tâm rộng sâu hơn rất nhiều. Nếu chỉ phát ý trong tâm “Con nguyện đạt giác ngộ vì lợi ích kẻ khác”, mà không tu những nhân tố ban đầu, vốn là bậc thang nền tảng cơ bản, thì cũng chẳng thể phát Bồ đề tâm đúng lý được. Vì lý do đó nên Đại sư Atisha đã có lần hỏi “Có ai biết người nào đạt được Bồ đề tâm mà không do quán Từ Bi không?
--- Bồ Đề Tâm gắn liền trí tuệ
Biểu hiện của giác ngộ là Bồ đề tâm. Bồ Đề Tâm lấy tình thương và từ bi làm căn bản, là nhân tối cần thiết để thành tựu Phật quả. Vì thế hành giả nên phát khởi tâm Bồ Đề với ý niệm thanh tịnh “Con xin nguyện vì lợi ích của tất cả thế gian mà trọn thành Phật đạo.”.
Mặc dù Bồ đề tâm là nhân duyên chính thành tựu Phật quả, nhưng Bồ đề tâm ví như người cha cũng rất cần hợp nhất với Trí Tuệ, còn gọi là Tánh Không, ví như người mẹ, để con có khả năng đạt thành Phật quả. Dù được bên này mà thiếu bên kia cũng không giác ngộ viên mãn, cho dù Bồ đề tâm là năng lực cần thiết sinh thành quả Phật, nhưng trãi qua những giai đoạn phát tâm đó, cần phải có Không quán. Nhưng đối với pháp này, để đạt được sự chuyển hóa toàn diện sâu xa, cần phải thường quán sát những pháp căn bản như: Được sinh trong thân người cao quí - Vô thường - Chết - Bản chất của nghiệp lực - Luân hồi - Qui y - Những pháp tu cao hơn, thiền quán và trí tuệ…
---- Làm sao để phát Bồ đề tâm
Có hai phương pháp chính:
Thứ nhất là quán sáu nhân và một quả. Tu quán sáu nhân: nhận biết tất cả chúng sanh đều đã có lần làm mẹ chúng ta - tình thương của người mẹ - tư tưởng báo hiếu - khởi tâmthương yêu - từ bi và nguyện gánh trách nhiệm cho thế gian; đưa đến một quả là Bồ đề tâm.
Phương pháp thứ hai là quán chiếu trao đổi trực tiếp, thay vì ái luyến bản thân thì quan tâm đến tha nhân.
Muốn tu tập một trong hai pháp Phát Tâm Bồ đề này, đầu tiên phải phát khởi thấy tất cả chúng sanh đều bình đẳng. Quán từ từ, mới đầu xem một số chúng sanh nào đó, quán họ như người thân, rồi sau quán đến những người ghét, những kẻ thù, sau nữa đến hết những người lạ đều như thế. Cho đến lúc đạt đến sự bình đẳng đối với hết thảy chúng sanh. Bằng không dù có muốn thiền quán để phát tâm Bồ đềcũng chẳng ảnh hưởng chi! Thí dụ, muốn vẽ một bức tranhtrên tường, đầu tiên phải làm sao để mặt tường không còn nứt nẻ hay lồi lõm. Cũng tương tự như thế, không thể đạttâm Bồ đề viên mãn khi tâm thức còn phân biệt người này bạn, kẻ kia thù hay người nọ xa lạ.
Đối với người chúng ta hay khởi tâm phân biệt, điều này cũng tự nhiên thôi. Khi đã phân biệt, tâm ta thường như thế này: nếu gặp một người, biết người đó là bạn, tự nhiên sự ràng buộc gia tăng, khiến ta cư xử với người đó một cách nồng nhiệt và tốt bụng. Tại sao ta cho người đó là “bạn”? Vì đã có lúc họ đem lợi ích hay đã đồng tình với ta điều gì đó. Ngược lại, khi tiếp xử với người mà ta cho là “kẻ thù”, ác cảmsẽ khởi lên khiến ta đối lại bằng lạnh lùng và giận dữ. Lần nữa, nguyên nhân, là do người đó đã từng gây hại hay khiến ta sợ gì đó. Tương tự, khi gặp người không thiện cảm cũng không phương hại, ta cho rằng đó là “kẻ xa lạ”, và không khởi cảm xúc gì hết.
Tuy nhiên, nếu xét cho kỹ cách phân biệt đối xử này, sẽ thấy ngay nó hoàn toàn không chắc chút nào. Ngay trong cuộc đời này, con người lắm khi xem bạn như thù, còn kẻ thù thì biến thành bạn. Trong vô lượng kiếp, từ kiếp vô thỉ trôi lăn theo dòng sinh tử đến nay, không có một chúng sinh nào chỉ hoặc là bạn, hoặc là thù của chúng ta.
Nguyên nhân chính của tâm phân biệt bắt nguồn từ ngã ái, luôn nghĩ mình quan trọng hơn kẻ khác. Hậu quả của ngã áilà khởi lên ràng buộc đối với những ai đã từng giúp mình, và ác cảm những ai đã từng làm hại. Từ đó, tạo vô số nghiệp với người thương, kẻ ghét. Như vậy mình lại gây đau khổ cho chính mình và kẻ khác, vừa hiện tại vừa tương lai, cho đếnkhi chủng tử nghiệp lực này đủ duyên hiện hành, sẽ chín muồi thành quả đau khổ.
Còn thương chúng sanh thì sao? Khi thương chúng sanh, chắc chắn ta sẽ không hại, không giết, đó chính là nhân của sống lâu. Thương chúng sanh, ta mở rộng lòng mình, biết sống cảm thông và khoan dung, độ lượng đó là nghiệp nhâncủa kiếp sau giàu có, sung túc. Khi thương chúng sanh, thậm chí có ai hãm hại hay làm ta đau khổ, ta vẫn có thể an trú trong tình thương và nhẫn nhục, đó là thiện nghiệp chiêu cảm quả báo được thân tướng tốt đẹp ở mai sau. Nói tóm lại, mọi quả thiện đều từ những nhân thiện thương yêuchúng sanh, chính những nhân tốt ấy sẽ đem đến cho ta niềm vui và hạnh phúc; hơn nữa, cũng chính từ tâm thương chúng sanh đó mà ta đạt được Niết Bàn và Phật quả.
Rõ ràng, tâm vị kỷ - chỉ biết thương bản thân là nhân của mọi mối bất toàn, ngược lại phụng sự chúng sanh là nhân của mọi điều hạnh phúc. Những đau khổ của các cảnh giới dù thấp hay cao trong cõi Hữu, những vướng mắc trên đường tu, cho đến những chướng ngại vi tế trước khi đạt Niết Bànđều do tâm vị kỷ. Trong khi mọi hạnh phúc của đời này cho đến những đời vị lai đều bắt nguồn từ tình thương hết thảy chúng sanh.
Trên đây chỉ giải thích vắn tắt ngắn gọn Bồ Đề Tâm và phương pháp tu tập. Tôi rất hoan hỷ nếu quí vị tìm được niềm hứng thú với đề tài này. Nền tảng của Bồ Đề Tâm, tình thương và từ bi là động lực mang lại lợi ích cho người lẫn cho ta. Và một khi Bồ Đề Tâm đã chuyển hóa, thì mỗi một hành động đều trở thành một thiện nhân dẫn đến Phật quả. Thậm chí nếu tu chỉ để bớt dần thái độ ích kỷ bản thân thôi, thì đó cũng đã quá tốt rồi. Không có Bồ Đề Tâm thì đừng nói gì đến quả vị Phật. Một khi đã phát Bổ Đề Tâm rồi, thì vấn đềcòn lại chỉ là thời gian mau hay chậm mà thôi.