30/07/2012
CHƯƠNG MỘT - MÔN HỌC LẬP MỆNH
Lập mệnh chính là sáng tạo ra vận mệnh, không bị vận mệnh trói buộc. Chương “ Lập mệnh” này chính là bàn đến cái học lập mệnh, giảng giải đạo lý an than. Viên Liễu Phàm tiên sinh đã đem kinh nghiệm bản than cùng nhiều nghiệm chứng trong việc cải đổi vận mệnh để dạy cho con trai. Ông muốn con trai mình là Viên Thiên Khải không nên bó tay trước vận mệnh mà phải gắng hết sức cải đổi vận mệnh bằng cách hành thiện, đoạn ác, như người xưa nói : “ Đừng chê điều thiện nhỏ mà không làm, đừng khinh điều ác nhỏ mà làm”. Nếu làm được như vậy, nhất định sẽ cải đổi vận mệnh:” Đoạn ác tu thiện dứt trừ tai ương, phúc thọ miên trường”. Đây chính là nguyên lý cải đổi vận mệnh.
Cha thủa nhỏ mất cha sớm. Bà nội bảo cha bỏ học, không nên đi theo đuổi công danh mà đổi học ngành y làm thầy trị bệnh. Bà nội bảo:
- Học nghề thuốc vừa có thể kiếm tiền nuôi than vừa có thể cứu giúp người khác. Nếu y thuật đến mức cao minh cũng có thể trở thành y sư danh tiếng. Đây chính là tâm niệm của cha con khi còn sinh tiền.
Về sau cha ở chùa Từ Vân tình cờ gặp được một ông lão tướng mạo phi phàm, râu dài phấp phới, có vẻ tiên phong đạo cốt. Cha cung kính vái chào. Ông lão bảo:
- Ông là người trong chốn quan trường năm sau có thể đi thi, bước vào hàng tri thức, thế tại sao không chịu đi học?
Cha trả lời vì ý của bà nội muốn cha bỏ học khoa cử để theo đuổi ngành y. Kế đó cha lại hỏi tính danh, nơi cư trú của cụ, cụ đáp:
- Ta họ Không, người Vân Nam, được chân truyền của Triệu Khương Tiết tiên sinh, người tinh thông về dịch số Hoàng Cực. Tính theo số định, ta phải truyền môn dịch số này cho ông.
Do đó cha đưa vị tiên sinh này về nhà, thưa lại mọi việc với bà nội. Bà nội bảo cha phải tiếp đãi cụ chu đáo. Lại còn dạy rằng:
- Vị tiên sinh này tinh thông dịch số vận mệnh. Vậy con thử nhờ cụ tính cho một quẻ xem sao. Thử coi có linh nghiệm hay không?
Kết quả thật không ngờ, những việc trước đây, dù là việc nhỏ, Khổng tiên sinh cũng nói vô cùng chính xác. Cha nghe theo lời cụ, có ý định đi học lại nên bàn với người anh họ tên là Thẩm Xưng. Anh họ bảo:
- Tôi có một người bạn than tên là Úc Hải Cốc mở lớp dạy học ở nhà Ức Hữu Phu. Tôi đưa cậu đến đó ở trọ theo học, rất tiện.
Từ đó cha bắt đầu theo tiên sinh Úc Hải Cốc học tập. Một lần, Khổng tiên sinh tính số cho cha, bảo:
- Lúc ông chưa có công danh, còn là học sinh, thi Huyện đứng hạng mười bốn, thi Phủ đứng hạng bảy mươi mốt, thi Đề học đứng hạng chín.
Đến năm sau, cha đi thi ba nơi, thứ hạng quả nhiên đúng như lời Khổng tiên Sinh nói. Khổng tiên sinh lại tính cho cha một quẻ kiết hung họa phúc suốt đời. Cụ bảo:
- Ông vào năm nào đó sẽ thi đậu hạng mấy, vào năm nào đó sẽ bổ chức Lãm sinh, vào năm nào đó lên chức Cống sinh, và năm nào đó được chọn làm Huyện trưởng một huyện thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Làm chức Huyện trưởng được ba năm rưỡi thì từ quan về quê. Năm ông năm mươi ba tuổi, vào giờ sửu ngày mười bốn tháng năm, ông sẽ từ trần tại nhà. Tiếc rằng số của ông không có con trai.
Những lời này cho đều ghi lại và nhớ kỹ trong lòng. Từ đó về sau, mỗi khi thi cử, thứ hạng đều đúng như lời Khổng tiên sinh đã đoán. Chỉ có điều cụ đoán số thóc mà cha lĩnh khi làm chức Lẫm sinh là chin mươi mốt thạch năm đấu, sau đó mới thăng chức. Không ngờ khi mới nhận được bảy mươi mốt thạch thóc, quan Học đài là Đồ tong sư phê chuẩn cha được bổ chức Cống sinh. Cha nghĩ thầm trong bụng: “ Khổng tiên sinh đoán số cũng có chỗ không linh nghiệm”.
Không ngờ sau đó giấy phê chuẩn thăng chức của cha bị quan Học đài thay thế là Dương tông sư bác bỏ, không cho làm chức Cống sinh. Mãi đến năm Đinh Mão, Ân Thu Minh tông sư xem bài dự thi tuyển của cha thấy không được chấm đậu nên lấy làm tiếc, than rằng:
- Năm bài văn làm trong quyển này khác nào tấu điệp dâng lên cho vua. Người có học thức như thế này lẽ nào lại để cho mai một đến già?
Do đó ông dặn quan huyện đưa hồ sơ của cha lên chỗ của ông, phê chuẩn cho bổ chức Cống sinh. Trải qua sự trắc trở này, cha hưởng thêm một số thóc của chức Lẫm sinh, cộng với bảy mươi mốt thạch thóc đã ăn khi trước, vừa đúng chin mươi mốt thạch năm đấu. Sau khi xảy ra sự việc này, cha càng tin tưởng: Công danh tiến thoái thăng trầm của một đời người đề do số mệnh định sẵn. Sự thành đạt đến sớm hay muộn đều có thời gian nhất định. Do đó cha buông trôi, an phận, không còn có lòng tranh đấu gì nữa.
Khi được tuyển làm chức Cống sinh, theo quy định phải đến trường Quốc Tử Giám ở Bắc Kinh để học. Cha ở kinh thành một năm, suốt ngày ngồi yên, không nói chuyện, cũng không suy nghĩ, tính toán. Tất cả sách vở đều không xem đến. Đến năm Kỷ Tỵ, cha trở về học ở trường Quốc Tử Giám tại Nam Kinh, tranh thủ thời gian trước khi nhập học đến núi The Hà bái kiến thiền sư Vân Cốc. Ngài là một vị cao tăng đắc đạo.
Cha ngồi đối diện với thiền sư trong một gian thiền phòng suốt ba ngày ba đêm, không hề chợp mắt. Vân Cốc thiền sư hỏi:
- Người ta sở dĩ không thể trở nên thánh nhân chỉ vì vọng niệm trong tâm khởi lên không ngừng. Ông tĩnh tọa ba ngày, ta chưa từng thấy ông khởi lên một niệm vọng tưởng, đó là vì sao?
Cha đáp:
- Số mệnh tôi đã được Khổng tiên sinh xem rõ rồi. Lúc nào sinh, lúc nào chết, lúc nào đắc ý, lúc nào thất ý đều có số định sẵn, không cách gì thay đổi được. Vậy cho dù có nghĩ tưởng mong cái gì đi nữa cũng vô ích, do đó trong tâm cũng không có vọng niệm.
Vân Cốc thiền sư ngồi bảo:
- Ta vốn cho rằng ông là bậc trượng phu xuất trúng, nào ngờ chỉ là kẻ phàm phu tục tử tầm thường!
Cha nghe xong không hiểu, bèn thỉnh giáo tại sao lại như thế. Vân Cốc thiền sư bảo:
- Một người bình thường không sao tránh khỏi tâm ý thức vọng tưởng sáo trộn. Đã có tâm vọng tưởng không dừng thì phải bị âm dương khí số trói buộc. Đã bị âm dương khí số trói buộc, sao có thể bảo là không có số mệnh được? Tuy nói rằng có số, song chỉ người bình thường mới được số mệnh trói buộc. Nếu là một người cực thiện thì số mệnh không sao ảnh hưởng được đến họ. Bởi vì người cực thiện, cho dù số mệnh vốn có chủ định phải chịu khổ sở, nhưng nhờ làm được điều thiện cực lớn, sức mạnh của việc thiện lớn này chỉ có thể chuyển khổ thành vui, nghèo hèn đoản mệnh thành phú quý trường thọ.
Còn người cựu ác số, số mệnh cũng không ảnh hưởng được đến họ. Vì cho dù số mệnh họ chủ định được hưởng phúc, song vì họ gây tạo việc ác lớn, chính sức mạnh của việc ác này khiến phúc trở thành họa, giàu sang trường thọ trở nên nghèo hèn chết yểu.
Số mệnh của ông trong hai mươi năm được Khổng tiên sinh đoán trước, không từng biết cải đổi một chút, trái lại còn bị số mệnh buộc chặt. Một người bị số mệnh buộc chặt chính là phàm phu tục tử. Vậy ông phải là kẻ phàm phu tục tử hay sao?
Cha hỏi Vân Cốc thiền sư rằng:
- Theo như thiền sư nói thì số mệnh có thể cải đổi được chăng?
Thiền sư trả lời:
- Mệnh do tự mình tạo, phúc do chính mình tìm. Ta làm ác tự nhiên bị tổn phúc. Ta tu thiện được nhiên được phúc báo. Sách vở mà cổ nhân để lại xưa nay đã chứng minh tính chính xác của đạo lý này. Trong kinh Phật nói: “Muốn cầu phú quý được phú quý, muốn cầu con trai con gái được con trai con gái, muốn cầu trường thọ được trường thọ. Chỉ cần tu tạo việc lành thì số phận không sao trói buộc được chúng ta” Nói vọng ngữ là đại giới của nhà Phật, chẳng lẽ Phật và Bồ tát lại lừa dối chúng ta sao.
Cha nghe xong trong lòng vẫn còn chưa rõ, mới hỏi thêm rằng:
- Mạnh tử từng nói: “Hễ cầu là được” là chỉ những gì ở trong lòng ta có thể làm được. Nếu không phải là những gì ở trong lòng thì làm sao có thể nhất định làm được? Ví như nói đạo đức nhân nghĩa, toàn là những thứ ở trong tâm chúng ta, ta lập chí làm một người nhân nghĩa đạo đức thì tự nhiên trở thành người nhân nghĩa đạo đức. Đây là cái mà ta có thể tận lực để cầu. Còn như công danh phú quý là cái không ở trong tâm, vốn ngoài thân chúng ta, nếu người khác chịu cho ta mới có thể lấy được, vậy ta làm sao để cầu?
Vân Cốc thiền sư bảo:
- Lời nói của Mạnh Tử không sai, song ông giải thích lại sai. Ông không thấy Lục Tổ Huệ năng nói sao: “Tất cả các loại phúc điền đều quyết định trong tâm chúng ta. Phúc không lìa tâm, ngoài tâm không có phúc để cầu”. Cho nên trồng phúc hay gieo họa đều do nơi tâm chúng ta. Chỉ cần từ tâm mình đi cầu phúc, không có gì mà không cảm ứng ra.
Nếu biết từ tâm mình mà cầu thì không những cầu được nhân nghĩa đạo đức trong lòng mà công danh phú quý bên ngoài cũng cầu được. Đó gọi là trong ngoài đều đều được. Nói cách khác, dùng cách gieo trồng ruộng phúc để cầu thì nhân nghĩa, phúc lộc chắc chắn sẽ được.
Một người số mệnh có công danh phú quý, cho dù không cầu cũng có; còn như số mệnh không có công danh phú quý, cho dù có cầu cũng vô ích. Cho nên, chúng ta nếu không biết kiểm điểm xét lại mình, chỉ hướng ngoài tìm cầu công danh phú quý một cách mù quáng thì không chắc chắn có được vì nó còn lệ thuộc vào phúc báo sẵn có của mình. Đó là khế hợp với ý hai câu nói của Mạnh Tử: “ Cầu phải có đạo lý, còn được hay không là do số mệnh”.
Phải biết rằng, cho dù ta cầu mà được thì đó cũng là phúc báo sẵn có của chính chúng ta, mà không phải chỉ do cầu mà có hiệu nghiệm! Cho nên cái gì đáng cầu mới cầu, không nên cầu một cách vô nguyên tắc, không có đạo lý.
Nếu như phúc báo không có mà khăng khăng muốn cầu thì không những công danh danh phú quý cầu không được mà còn vì tâm tham cầu quá đáng, không có mức độ, bất chấp thủ đoạn, nên đánh mất cả nhân nghĩa đạo đức trong tâm, Như vậy chẳng phải trong ngoài đều mất tất cả sao? Vì vậy cầu mà không có đạo lý là vô ích.
Viên Cốc thiền sư tiếp đó hỏi:
- Khổng tiên sinh đoán số mệnh cả đời của ông như thế nào?
Cha thuật lại tường tận những gì Khổng tiên sinh đã tính, vào năm nào thi đậu hạng mấy, năm nào làm quan, bao nhiêu tuổi mất.. Viên Cốc thiền sư bảo:
- Ông tự suy xét xem, mình có thể thi đậu được công danh không? Có thể có con trai hay không?
Cha xét lại những việc làm của mình đã qua, suy nghĩ rất lâu mới trả lời:
- Tôi không có phúc tướng nên biết phúc báo không có bao nhiêu; lại không biết tích công đức, làm việc thiện để vun bồi phúc báo. Lại thêm tôi không biết nhẫn nại, không chịu gánh vác những việc phức tạp, nặng nề. Tôi lại có tính hẹp họi, nói năng tùy tiện, ai làm gì sai không thể bao dung. Có lúc tôi còn tự cao tự đại, đem tài năng, trí thức của mình ra lấn lướt người khác. Những biểu hiện trên là tướng bạc phúc, làm sao có thể thi đậu được công danh?
Sạch sẽ là đức tính tốt, song nếu quá mức sẽ trở thành tính khí khó chịu. Nên người xưa bảo: Chỗ nào nhiều phân rác, cây cối lại tốt tươi; nơi nào nước quá sạch, tôm cá không thể sống. Tính tôi sạch sẽ quá mức, thành ra mọi người xa lánh. Đây là nguyên nhân thứ nhất tôi không có con trai.
Vạn vật phải nhờ ào anh dương quang ấm áp, gió mưa mát mẻ thấm nhuần mới sinh trưởng được. Tính tôi lại nóng nảy giận hờn, không có hòa khí tươi mát làm sao có thể sinh trưởng được con trai? Đây là nguyên nhân thứ hai.
Nhân ái là cội rễ của sự sống. Nếu tâm tàn nhẫn, không có từ bi thì khác nào trái cây không được hạt, làm sao nảy mầm mọc thành cây được? Cho nên người xưa bảo: Tàn nhẫn là gốc của tuyệt tự. Tôi chỉ biết yêu tiếc danh tiết của mình, không chịu hi sinh bản thân để hành toàn cho người khác, không làm điều thiện, tính công đức. Đó là nguyên nhân thứ ba tôi không có con trai.
Nói nhiều dễ dàng hại đến khí. Tôi lại nhiều lời nên than thể không được khỏe mạnh, làm sao mà có được con trai? Đây là nguyên nhân thứ tư tôi không có con trai.
Người ta sống lại nhờ tinh, khí, thần. Một người tinh lực không đầy đủ, cho dù sinh ra con trai cũng không được trường thọ. Đây là nguyên nhân thứ năm tôi không có con trai.
Người ta ban ngày không nên ngủ, ban đêm không nên thức. Tôi thường ngồi suốt đêm, không chịu ngủ sớm. Đó là không biết bảo dưỡng nguyên khí tinh thần. Đây là nguyên nhân thứ sáu tôi không có con trai. Ngoài ra còn có nhiều sai lầm, không sao nói hết.
Vân Cốc thiền sư bảo:
- Ông như vậy không có được công danh mà nhiều thứ khác cũng không có được. Nên biết có phúc hay không phúc đều do tâm tạo ra. Người có trí tuệ biết rằng đó là tự mình làm, tự mình nhận lấy kết quả. Người không hiểu biết lại đổ thừa cho vận mệnh.
Ví dụ như trên thế gian có người giàu sang, sản nghiệp ngàn lạng vàng, đó là họ có phúc báo ngàn lạng vàng. Người có sản nghiệp trăm lạng vàng, đó là họ có phúc báo trăm lạng vàng. Còn người nghèo cùng chết đói, là họ có quả báo chết đói. Ví dụ như người lành tích đức, trời sẽ cho họ hưởng phần phúc báo tương ứng; kẻ ác tạo tội; trời sẽ bắt họ chịu tai họa tương ứng.
Trời đây chính là Ta ở tiền kiếp, Ta ngày nay là Ta của tiền kiếp đã kết tinh thành, Ta ngày nay vừa là vật thọ tạo của ta ngày trước và đồng thời cũng là đấng tạo hóa (Trời) của Ta sau này. Cái mà mọi người quen gọi là số mệnh thực sự chỉ là Nghiệp, tự ta đã tạo ra ( tự nghiệp) chứ không phải là một quyền lực nào ngoài mình tạo ra cả. ta là chủ nghiệp của Ta. Ta chính là người tạo ra số mệnh của Ta và chỉ có Ta mới thay đổi được số mệnh của Ta. Tự mình tạo ra thì cũng tự mình thay đổi nó ( nếu muốn).
Theo nhà Phật, nghiệp quá khứ là nguyên nhân động lực của kiếp sống hiện tại. Nó chỉ huy tất cả. Thành ra con người giống như một bộ máy bị một định mệnh vô hình chi phối ( ta thường gọi là “số mệnh”). Động lực chính của sự tạo nghiệp là ý thức. Ý thức có một tác dụng vô cùng mạnh mẽ, nó chi phối tất cả mọi thứ khác, lại có quyền sáng tạo và thay đổi cả một cuộc đời của con người. Trong giai đoạn hiện tại, cá nhân phải gánh chịu tất cả những quả báo của nghiệp quá khứ ( túc nghiệp) và nghiệp hiện tại ( hiện nghiệp). Nhưng ý thức với sự phụ họa của các thức khác trong giai đoạn sống hiện tại lại cũng có quyền năng tạo nghiệp mới, để làm động lực cho sự phát sinh sinh mệnh sau này.
Hạnh phúc hay đau khỏ do chính con người tạo ra, không ai có quyền ban phúc giáng họa hoặc thưởng phạt ai cả. Chỉ có nhân quả nghiệp báo là quan tòa công lý vận hành quyết định số mệnh của Ta mà thôi.
Tiếp theo, Vân Cốc thiền sư mượn cái thấy của người thế tục để khuyên cha tích đức hành thiện:
- Còn việc sinh con trai giống như chúng ta gieo hạt vậy. Nhân tốt sẽ gặp quả tốt, nhân xấu sẽ gặp quả xấu. Một người tích chứa công đức được một trăm đời thì con cháu trong một trăm đời gìn giữ phúc báo của họ. Một người tích chứa công đức được mười đời thì có con cháu trong mười đời gìn giữ phúc báo của họ. Tích chứa công đức được hai ba đời thì có con cháu trong hai ba đờigìn giữ phúc báo của họ. Còn người chỉ được hưởng phúc trong một đời, đến đời sau lại tuyệt hậu, đó là công đức chứa chỉ bấy nhiêu. Song nghiệp tội của người đó có lẽ lại không ít!
- Ông đã tự biết khuyết điểm của mình thì phải hết lòng hết sức cải đổi những tính xấu, biểu hiện bạc phúc khiến không được công danh và có con trai. Ông nhất định phải làm lành tích đức, đối với người phải hòa khí từ bi, bao dung độ lượng và quý tiếc gìn giữ tinh thần của mình.
- Hãy coi tất cả những việc trước kia như hôm qua đã chết đi; còn những việc về sau như hôm nay mới sinh ra. Sống với cuộc đời bằng trái tim từ bi, yêu thương mọi người, mọi loài luôn sống hạnh phúc trọn vẹn trong hiện tại. Làm được việc này là ông đã có một sinh mệnh mới. Đó là sinh mệnh nhân nghĩa đạo đức. Thân huyết nhục của chúng ta còn có khí số nhất định, song còn shinh mệnh nhân nghĩa đạo đức không bị số mệnh trói buộc, có thể cảm đến thiên lý. Thiên Thái Giáp trong “Kinh Thư” nói:” Trời giáng xuống tai họa còn có thể tránh; tự mình gây ra tai họa thì không thể tránh, ắt phải chịu khổ.”
- “ Kinh Thư” cũng nói: “ Người ta phải thường xét nghĩ đến hành vi của mình có hợp với đạo trời hay không? Nếu hợp với đạo trời thì phúc báo không cầu cũng tự nhiên đến”. Cho nên phúc hay họa đều là do mình. Thiên lý hay Đạo trời được nói đến đây chính là luật nhân quả.
- Không tiên sinh tính số cho ông bảo không có công danh, lại thêm không con thừa tự. Tuy là bảo số trời định sẵn, song vẫn có thể cải đổi. Ông chỉ cần mở rộng lòng đạo đức nhân nghĩa sẵn có, gắng sức làm lành, tích chứa âm đức. Đó là ông tự mình tạo ra phúc báo cho mình, người khác muốn cướp muốn giật cũng không được, làm sao mà không hưởng được phúc?
- “ Kinh Dịch” cũng vì những người giữ lòng nhân đức mà tính trước nên đi hướng nào sẽ kết tường, tránh được những việc hung hiểm, những người hung hiểm , những chỗ hung hiểm.
- Nếu nói nhất định vận mệnh không thể thay đổi thì làm sao có thể đến được chỗ kiết tường, tránh nới hung hiểm? Chương mở đầu của “Kinh Dịch” đã nói:” Gia đình nào hành thiện, ắt sẽ dư nhiều phúc báo, để lại cho con cháu”. Đạo lý này ông thực sự có tin không?
Cha tin lời Vân Cốc thiền sư, đảnh lễ tạ ơn và theo lời chỉ giáo. Cha đồng thời đem những việc sai lầm tội lỗi lúc trước, không luận là lớn nhỏ nặng nhẹ, ra trước bàn thờ Phật thành tâm sám hối. Cha cũng làm một bài kệ, trước hết tỏ lòng nguyện cầu có được công danh, kế đó phát nguyện làm ba ngàn việc thiện để báo đáp ân nghĩa của trời đất và công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ.
Vân Cốc thiền sư nghe cha lập thệ làm ba ngàn việc thiện, liền đưa cho xem quyển sổ ghi lại việc tội hay phúc. Ngài dạy phải làm theo những lời dặn trong đó. Phàm những việc làm của mình, không luận là thiện hay ác, mỗi ngày đều phải ghi vào quyển sổ đó. Việc thiện thì phải ghi vào phần phúc, còn việc ác thì phải ghi vào phần tội.
Song việc ác phải xem là lớn hay nhỏ, có thể dùng phần việc thiện đã ghi để giảm trừ. Ngài còn dạy phải trì chú Chuẩn Đề, nhờ sức gia trì của chư Phật để giúp nguyện ước sớm thành tựu.
Như vậy vận mệnh là tự mình tạo lấy. Nếu phân tích tỉ mỉ để giảng thì dù giàu hay nghèo cũng không khác, đều phải làm theo đạo lý lập mệnh này. Khi giàu không thể cạy tiền cạy thế hống hách, hiếp đáp người khác mà phải khiêm cung, chia sẻ giúp đỡ mọi người. Như vậy, vận mệnh phú quý càng thêm phú quý và có thể bảo tồn lâu dài. Khi nghèo vẫn giữ khí tiết, không làm việc trái với lương tâm. Dù nghèo vẫn an phận thủ thường, làm một người lương thiện. Như vậy mới có thể chuyển đổi vận mệnh bần cùng thành vân mệnh phú quý. Cho nên, dù giàu hay nghèo đều phải bỏ ác làm lành, gieo trồng ruộng phúc.
Đoản mệnh hay trường thọ cũng vậy. Không nên cho rằng mình vắn số, sống chẳng bao lâu mà tranh thủ hưởng thụ, mặc tình làm ác, vào đường đọa lạc. Nên biết, vì nghiệp báo mình phải đoản mệnh, nên gắng sức làm lành, hy vọng đời sau sẽ được trường thọ. Như vậy có thể đời này được sống lâu thêm.
Còn người trường thọ cũng không nên ỷ nại mà mặc sức tạo ác, gian dối phạm pháp, đắm mê tửu sắc. Nên biết trường thọ có được không dễ, phải trân trọng, làm thêm điều lành để giữ gìn phúc báo trường thọ này. Hiểu được đạo lý này mới có thể cải đổi đoản mệnh thành trường thọ; mệnh trường thọ càng thêm dài lâu, càng thêm khỏe mạnh.
Người ta sống trên đời, việc hệ trọng nhất là sống và chết. Nếu có thể xem đoản mệnh và trường thọ không khác thì tất cả thuận cảnh, nghịch cảnh, giàu sang, nghèo hèn đều bao quát trong đó.
Mạnh Tử nói cái học về lập mệnh chỉ bàn đến đoản mệnh và trường thọ mà không nói đến giàu nghèo, thành đạt và khốn cùng cũng chính vì lý do này.
Vân Cốc thiền sư lại bảo:
- Mạnh Tử có câu “ Tu thân để đợi đó” là bảo: Tự mình phải luôn luôn tu tâm dưỡng đức, không nên làm ác gây tội dù là mảy may. Còn như vận mênh có cải đổi được hay không, đó là tùy thuộc vào việc tích đức nhiều ít, hợp hay không hợp đạo trời.
` Nói đến chữ “ tu thân” là bảo hướng vào trong tâm sửa đổi những sai lầm, tội lỗi của chúng ta, người tu chỉ nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành, thường tự xét lỗi mình, không bàn lỗi người khác. Còn bảo “đợi” là chỉ mọi người phải đợi đến công phu tu thân sâu dày, phúc báo vun đắp đầy đủ, tội nghiệp tương ứng tiêu trừ, thì vận mệnh sẽ tự nhiên chuyển đổi, trở nên tốt đẹp. Không nên có tư tưởng mong muốn những gì vượt quá phận mình, để cho vọng tâm, dục tưởng làm mờ ám tâm trí, mà phải giữ tâm thanh tịnh, buông xuôi mọi vọng niệm sinh diệt. Tâm như tấm gương, thấy rõ ràng tất cả nhưng không bị ngoại cảnh tác động, thấy cảnh mà lìa khỏi cành, thấy tướng mà lìa khỏi tướng, trong chỗ nghĩ tưởng mà không nghĩ tưởng, thấy tất cả các pháp mà tâm không đắm nhiễm. Đến trình độ này sẽ tìm lại được tự tính thanh tịnh, trong sáng có sẵn trong mỗi người và chỉ dùng tâm này là đủ thành Phật. Song công phu này phải kinh qua thực hành mới lĩnh hội được.
Cha ban đầu tên hiệu là Học Hải, song từ ngày đó trở đi đổi hiệu là Liễu Phàm. Bởi vì sau khi hiểu rõ đạo lý lập mệnh, cha không muốn sống như kẻ phàm phu mà phát nguyện quét sạch kiến giải phàm phu, nên gọi là Liễu Phàm.
Từ đó về sau, cả ngày cha đều chánh niệm tỉnh giác, cẩn thận từ lời nói, việc làm cho đến ý nghĩ. Cha cảm thấy mình như thay đổi hẳn, trở thành con người khác.
Lúc trước cha sống tùy tiện, hồ đồ, không biết kiềm chế. Đến nay trở nên cẩn thận, cung kính, cảnh giác những điều bất thiện.
Cho dù trong nhà, buổi tối không có ai đi nữa, cha cũng không giám tùy tiện vì biết có trời đất, quỷ thần soi xét. Gặp người ganh ghét, hủy bang, cha vẫn an nhiên, không chấp nhất, tranh luận với họ.
Năm thứ hai sau khi tham kiến Vân Cốc thiền sư, cha đến bộ Lễ thi cử. Khổng tiên sinh đoán số cha sẽ đậu hạng ba, không ngờ lại đậu được hạng nhất. Lời của Khổng tiên sinh bắt đầu hết linh nghiệm. Khổng tiên sinh không nói cha sẽ đậu cử nhân, song trong ký thi Hương mùa thu, cha lại thi đậu cử nhân. Đây là do làm phúc tích đức khiến số mệnh thay đổi. Vân Cốc thiền sư bảo: “ Vận mệnh có thể thay đổi”. Lời nói này đến nay đã được chứng nghiệm, khiến cha càng thêm tin tưởng.
Cha tuy sửa đổi lỗi lầm khá nhiều song khi gặp việc nên làm vẫn không thể chuyên tâm nhất ý làm. Cho dù làm vẫn còn miễn cưỡng, không được tự nhiên. Cha tự xét lại thấy lỗi lầm vẫn còn rất nhiều.
Ví dụ như thấy việc thiện, tuy chịu làm, song không mạnh dạn nỗ lực làm. Hoặc là gặp lúc cứu người, trong lòng vẫn còn chần chừ, do dự không kiên quyết thực hiện. Việc thiện tuy có làm được song lại hay nói những lời lầm lỗi. Khi tỉnh táo còn có thể tự chủ, song khi say rượu lại phóng túng, làm càn. Cha tuy làm lành có tích chứa chút công đức, song lỗi lầm vẫn còn rất nhiều. Nếu lấy công đức để trừ đi lỗi lầm e còn chưa đủ. Thời giờ chỉ luống uổng qua đi.
Từ năm Kỷ Tị nghe lời của Vân Cốc thiền sư, cha phát nguyện làm ba ngàn việc thiện, đến năm Kỷ Mão, đã hơn mười năm mới hoàn thành ba ngàn việc thiện này.
Lúc đó cha vừa cùng Lý Tiệm An tiên sinh vừa từ Quan ngại trở về Quan nội, chưa kịp đem ba ngàn việc thiện này ra hồi hướng. Đến năm Canh Thìn cha trở về phương Nam, mới thỉnh hai vị đại lão Hòa thượng đức độ là ngài Tính Không và Tuệ Không, mượn thiền đường Đồng Tháp để hoàn thành tâm nguyện hồi hướng này. Lúc đó, cha lại khởi lên tâm nguyện cầu sinh con trai, và phát đại nguyện làm ba ngàn việc thiện lớn. Đến năm Canh Tị sinh ra con, đặt tên là Thiên Khải.
Cha mỗi khi làm được một điều thiện đều ghi lại. Mẹ con không biết viết chữ, mỗi khi làm được một việc lành, như cho người nghèo cơm ăn, hay phóng sinh… đều lấy bút long ngỗng, in một khuyên tròn màu đỏ lên lịch, đại ý ngày đó làm được mười mấy việc thiện.
Như thế mãi đến tháng tám năm Quý Mùi mới hoàn thành ba ngàn điều thiện đúng như nguyện. Cha lại thỉnh các vị như hòa thượng Tính Không…về nhà làm lễ hồi hướng. Đến tháng chin năm đó, cha lại khởi lên lời nguyện thi đậu Tiến sĩ và phát nguyện làm một vạn điều thiện để hồi hướng. Đến năm Bính Tuất lại thi đậu Tiến sĩ. Bộ Lại bổ cho cha làm chức Huyện trưởng huyện Bảo Để đương khuyết. Lúc cha làm huyện trưởng huyện Bảo Để, có chuẩn bị một quyển sổ kẻ ô để trống. Quyển sổ này cho gọi nó là “Sổ tay trị tâm”. Nói trị tâm là e tâm mình khởi lên tà niệm, dùng phương tiện này để đối trị.
Mỗi ngày thức dậy vào lúc sáng sớm, lúc thăn đường xét xử, cha đều cho người để quyển sổ trị tâm này trên bàn làm việc. Mỗi ngày, việc lành hay việc ác dù là rất nhỏ cũng ghi vào đó. Bà nội thấy cha làm việc thiện không nhiều, chau mày bảo:
- Mẹ lúc trước ở nhà giúp con làm việc thiện cho nên lời nguyện ba ngàn việc thiện có thể hoàn thành. Nay con phát nguyện làm mười ngàn việc thiện, trong nha môn thực khó mà thực hiện được, biết đến bao giờ mới làm xong đây?
Sau đó, vào một đêm, cha bỗng nằm mơ thấy một vị thiện thần xuất hiện. Cha bèn đem việc khó mà hoàn tất mười ngàn việc thiện này thưa lại với thiện thần. Thiện thần bảo:
- Chỉ một việc ông làm Huyện trưởng giảm thuế ruộng đất cho dân là đủ để bù vào mười ngàn việc thiện.
Thì ra, ruộng của huyện Bảo Để mỗi mẫu thu thuế là hai đồng ba hào bảy xu. Cha thấy đúng là nhân dân chịu thuế quá nặng nên xin giảm thuế tất cả số ruộng trong huyện, mỗi mẫu chỉ đóng thuế một đồng bốn hào sáu xu. Cha cảm thấy thật là lạ, tại sao việc này thiện thần lại biết được. Vả lại cũng không ngờ, sao việc này có thể đủ bù vào mười ngàn việc thiện?
Đúng lúc đó có thiền sư Huyễn Dư từ núi Ngũ Đại đến huyện Bảo Để. Cha thưa lại chuyện trong mộng với thiền sư và hỏi có tin được chuyện này không. Huyễn Dư thiền sư đáp:
- Làm việc thiện phải có tâm chân thành khẩn thiết, không thể giả dối qua loa hoặc có tâm cầu báo đáp. Như vậy cho dù một việc thiện cũng có thể bằng mười ngàn việc thiện. Huống chi ông giảm thuế cho toàn huyện, nông dân toàn huyện đều được hưởng ân huệ này. Cả ngàn vạn người nhờ đó mà giảm đi nỗi khổ vì thuế mà nặng nề, đó thực là phúc báo to lớn.
Cha nghe xong lời dạy của thiền sư, liền đem tiền bạc bổng lộc của mình ra, nhờ thiền sư cúng trai tăng mười ngàn vị trên núi Ngũ Đài và xin hồi hướng.
Khổng tiên sinh tính số mạng cho cha bảo cha sẽ mất năm năm mươi ba tuổi. Cha tuy không cầu trời cho sống thọ song khi cha tuổi năm mươi ba lại không có chút đau bệnh gì. Năm nay cha đã sáu mươi chín tuổi rồi. “ Kinh Thư” nói: “ Mệnh con người không có nhất định, đều do tự mình tạo”. Những lời này không sai chút nào. Cha do đó mới biết, phàm nói đến họa phúc đều do tự mình tạo ra. Đó là lời của thánh hiền. Còn như bảo họa phúc do trời chủ định, đó là lời nói của kẻ phàm phu.
Vận mệnh của Viên Thiên Khải con rồi sẽ như thế nào. Song cho dù là vinh hoa phú quý, con cũng phải giữ tâm như lúc thất trí nghèo hèn. Cho dù gặp may mắn tốt đẹp, con cũng phải giữ lòng như lúc trắc trở khó khăn. Cho dù trước mắt có dư ăn dư mặc, con cũng phải cần kiệm như lúc thiếu thốn nghèo hèn. Cho dù được người ta yêu thích, kính trọng, con cũng phải luôn khiêm tốn, cẩn trọng. Cho dù gia thế có danh vọng đến đâu, con cũng phải thấy mình thấp kém. Cho dù học vấn có cao thâm bao nhiêu, con phải thấy mình còn thô thiển.
Cách sống âu sắc này là từ phản diện để nhìn vấn đề. Nếu biết khiêm cung như vậy, đạo đức dần dần nâng cao, phúc báo cũng tự nhiên tăng trưởng.
Xa thì con nên truyền nối và mở rộng công đức của tổ tiên; còn gần thì phải biết hiết kính cho cha mẹ. Trên thì con nên báo đáp ân huệ của trời đất; còn dưới thì phải tạo dựng hạnh phúc cho gia đình. Ngoài thì con nên cứu tế cấp nạn cho người nghèo khổ, bệnh tật, hoạn nạn, trong thì con phải luôn đề phòng niệm tưởng tà ác.
Sáu cách trên là từ chánh diện để khẳng định vấn đề. Nếu con thường tự xét lại mình để tìm những sai lầm, nhất định sẽ trở thành bậc chính nhân quân tử.
Người ta mỗi ngày cần phải tự kiểm điểm lỗi lầm của mình mới có thể sửa đổi mỗi ngày. Bằng không, cứ ngỡ là mình không có lỗi lầm, không chịu tu sửa, không làm sao tiến bộ được. Người tài giỏi thông minh trên thế gian không ít, song phần lớn lại không biết dụng công tu dưỡng đạo đức, không biết dụng công xây dựng vận mệnh tốt đẹp, đều chỉ vì thói lần lữa qua ngày, đến đâu hay đến đó, không có chí cầu tiến mới làm lỡ cả một đời của họ.
Những lời Vân Cốc thiền sư dạy về đạo lý lập mệnh thật là tinh thâm nhất, chân chính nhất. Cha mong con đọc và suy nghĩ kỹ, lại phải tận tâm tận lực thực hành, quyết không để ngày tháng quý báu trôi qua vô ích.