02/06/2026
Theo quy định của Bộ luật Lao động, hợp đồng lao động gồm có: Hợp đồng lao động không xác định thời hạn và Hợp đồng lao động xác định thời hạn.
Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:
- Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn .
- Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng.
- Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng.
Như vậy, tùy thuộc vào loại hợp đồng lao động mà người lao động đã ký, thời gian báo trước là 30 ngày, 45 ngày hoặc là 03 ngày làm việc.
Bênh cạnh đó, trong một số trường hợp đặc biệt, luật quy định người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước , cụ thể như sau:
- Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động.
- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật.
- Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động.
- Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định của pháp luật.
- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Nếu thuộc một trong các trường hợp nêu trên, người lao động có quyền nghỉ việc mà không phải báo trước (nghỉ ngang).
Theo quy định của Bộ luật Lao động, hợp đồng lao động là: Hợp đồng lao động không xác định thời hạn và Hợp đồng lao động xác định thời hạn. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo...