17/01/2026
KÝ ỨC MÙA GIÓ BẤC VỀ
Gió bấc – cách gọi thân thương ở quê tôi – là luồng không khí lạnh từ phương Đông Bắc tràn về mỗi độ giáp Tết. Mỗi khi gió bấc nổi lên, trời se sắt hẳn. Những buổi sáng nằm co ro trong chăn, chỉ muốn trùm kín đầu, chẳng thiết tha gì chuyện rửa mặt đi học. Nhưng là học trò thì dù lạnh mấy cũng phải cắp sách tới trường. Và cũng chính trên con đường quen thuộc ấy, tôi bắt đầu nhận ra: làng xóm đang dần khoác lên mình một dáng vẻ khác – dáng vẻ của Tết sắp về.
Ông bà vẫn hay nói: đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi. Thường qua rằm tháng mười một, nhiều nhà bắt đầu quét lại vách tường, sơn sửa đôi chỗ, như thay áo mới cho căn nhà đã nhuốm màu năm tháng. Không khí Tết cứ thế lan ra từ những bức tường còn mùi vôi mới.
Ở vùng ven biển, lũ trẻ con dậy rất sớm, ra cảng cá để “hoi” – nhặt nhạnh những con tôm rớt lại sau mỗi buổi ghe thuyền cập bến. Mỗi ngày vài con, đem về luộc rồi phơi khô, dành dụm ăn Tết. Hồi nhỏ, nghe tụi nó rủ rê, tôi cũng ham theo lắm, nhưng mẹ không cho. Vậy là chỉ biết ở nhà chờ tụi bạn về, háo hức xem “chiến lợi phẩm”.
Tầm đầu tháng Chạp, chợ Long Hải bắt đầu xuất hiện những tấm bao bố trải đầy những củ trắng nhỏ bằng ngón tay út, thoang thoảng mùi hăng nhẹ – củ kiệu. Mẹ tôi thường lựa những củ thật nhỏ, mang về ngâm tro, phơi nắng, rồi cẩn thận gọt vỏ, cắt đầu đuôi. Công đoạn này mới là quan trọng nhất: phải cắt sát rễ mà không được “phạm” vào phần thịt củ. Và cũng là công đoạn vui nhất. Cả nhà đem ra làm ở hàng ba – khoảng sân trước nhà. Dao nhỏ, lưỡi lam để sẵn đó, người lớn trẻ con trong xóm đi ngang đều “ngứa tay” ghé vào làm phụ. Giống như mấy bữa lột vỏ tôm khô, đông vui rộn ràng. Kiệu làm xong thì trộn đường, xếp vào hũ thành hình hoa cho đẹp mắt, phơi nắng rồi ăn dần. Có bà mẹ khéo tay còn thêm cà rốt ngâm để trang trí. Nhiều năm xa quê, có lần tôi về cận Tết, thấy người ta mua sẵn nhiều hơn là tự làm, bỗng thấy thiếu đi chút vị Tết xưa.
Càng sát Tết, không khí càng tất bật. Nhà cửa được dọn dẹp từ ngoài vô trong, từ trần nhà xuống nền gạch. Tôi nhớ thằng bạn hàng xóm buộc cây chổi lông gà vào thân tre để quét mạng nhện trên trần. Quét xong là sơn lại tủ thờ, đánh bóng bộ lư đồng. Mẹ tôi năm nào cũng thay miếng trải bàn thờ mới, nhất định phải là màu đỏ, lại phải có hoa.
Rằm tháng Chạp, chợ bày bán hoa cúc, hoa điệp, hoa vạn thọ. Riêng Long Hải thì khác: thay vì cúng hoa quả, người ta cúng bánh tét, bánh ú nước tro phiên bản mini – còn gọi là bánh cúng. Bánh gói rất đẹp: bánh tét dài hơn gang tay người lớn một chút, thân chỉ cỡ ngón tay cái. Bên trong lớp lá chuối là nếp dẻo và đậu đen, không nhân, không gia vị. Bánh ít lá g*i được cột thành từng chùm mười cái, nhỏ xinh, cũng không nhân, ăn sực sực vui miệng. Đám con nít tụi tôi chỉ chờ tới rằm để đi hè (giật cô hồn), mang bánh về chấm nước tương, chấm đường. Khoảng 6–7 giờ tối, nhà nhà bày mâm cúng cho trẻ con tranh nhau lấy. Giờ thì vẫn còn cúng, nhưng hiếm thấy tụi nhỏ đi hè. Có lẽ tụi nhỏ bây giờ đã đủ đầy hơn tụi tôi ngày trước.
Người ta hay nói: trước Tết thì cực mà vui. Tôi thấy đúng lắm. Những ngày này còn có lễ đưa ông Táo về trời. Mẹ tôi dọn nhang trong lư hương đem đốt, hóa giấy tiễn ông Táo. Mẹ không cúng cá chép, nhưng ở Long Hải, hầu như nhà nào cũng có món thèo lèo “cớt chuột” – kẹo đậu phộng mè đủ màu trắng, đen, đỏ. Cúng xong là mấy đứa tôi đứng chờ để nhón một miếng, giòn tan, ngọt béo, bùi bùi nơi đầu lưỡi.
Những ngày cận Tết, mẹ tôi ra chợ mua một xấp giấy đỏ, dán từ cửa ra vào, bình hoa, dưa hấu, tủ kệ… dán hết, tới rằm tháng Giêng mới tháo. Quan trọng nhất là trang trí cây mai: bao lì xì, dây kim tuyến đủ màu, đèn nhấp nháy. Nhà ai mai chưa nở thì tranh thủ ngâm nước ấm. Còn tụi tôi, mỗi đứa được sắm vài bộ đồ vía, vừa mong được diện đồ mới, vừa trông tới Tết để nhận lì xì.
Ký ức còn nhiều lắm: cùng nhau lột trứng bỏ vào nồi thịt kho măng, ngồi canh nồi bánh tét suốt đêm giao thừa…
Giờ xa quê, nhớ da diết những mùa gió bấc năm nào. Còn bạn thì sao, có ký ức nào muốn kể lại không?