13/09/2022
VÕ TRƯỜNG TOẢN - NHÀ VĂN HÓA BẬC THẦY CỦA MIỀN NAM.
Nguyễn Đình Đầu
Võ Trường Toản quê ở Gia Định, huyện Bình Dương, làng Hòa Hưng (ở hai bên đường Cách mạng tháng Tám, quận 3 và quận 10 nay). Cụ mất ngày 9-6 năm Nhâm Tý (1792), chưa biết sinh năm nào (1).
Tiểu sử cụ được Phan Thanh Giản tóm tắt như sau:
“Tiên sinh tính Võ, húy Trường Toản; đời trước hoặc nói là người Thanh Kệ (Thừa Thiên), hoặc nói là người Bình Dương (Gia Định), trước học ai hiện chưa rõ. Chỉ biết sở học của tiên sinh đã tới bậc dày dặn, đầy đủ, chất thật, có thuật nghiệp uyên thâm, thông đạt.
Xảy hồi biến động Tây Sơn, tiên sinh ở ẩn, mở trường dạy học, học trò kể có mấy trăm. Ngô Tùng Châu là môn sinh cao đệ nhất. Bậc thượng hạng là các ông Trịnh Hoài Đức, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm, Ngô Nhơn Tĩnh.
Bậc danh sĩ là ông Chiêu, ông Túc, ở ẩn dật, ngoài ra không kể hết được. Các ông ấy đều gặp hồi phong vân, thời trung hưng... thảy đều nên công nghiệp lớn trong đời."
“Lúc vào Gia Định, Nguyễn Ánh thường triệu tiên sinh tới đàm đạo. Lại nghe tiên sinh học rộng khắp các kinh, và sở trường nhất là bộ Tứ thư. Ông Chiêu là nhà túc nho ẩn dật học theo tiên sinh, học thấu nghĩa tri ngôn dưỡng khí... Sở học của tiên sinh thật là rộng lớn và tinh vi vậy, dẫu đọc bất cứ ngàn muôn kinh sách nào cũng rõ được nghĩa lý.”
“Tiên sinh không hứng ra làm quan, nên đại khái không thấy được sự nghiệp. Từ thuở tiên sinh lấy lối học nghĩa lý để giáo hóa, chẳng những đương thời đào tạo được nhiều nhân tài mà còn truyền thuật, giảng luận trau dồi về sau, tới nay dân gian trong sáu tỉnh Nam kỳ vẫn tỏ lòng trung nghĩa, cảm phát dám hy sinh vì tính mạng. Xét ra tuy nhờ đức thân nhân của quân vương nhuần gội, có kết nhân tâm, nhưng nếu không có đức công mở mang huấn dục của tiên sinh từ thuở trước thì làm sao có được nhân tâm như thế” (2).
Đúng vậy, Võ tiên sinh là người ẩn dật, không làm quan với cả Tây Sơn lẫn chúa Nguyễn. Ẩn dật với chính quyền – bất kể chính quyền nào – mà không ẩn dật với xã hội:
Tiên sinh đã mở trường dạy bảo hàng trăm học sinh, nhiều người đỗ đạt làm quan lớn, nhiều người chỉ học để sống cho có đạo lý. Song tất cả đều là hào khí Đồng Nai. Hào khí ấy, được tiên sinh hun đúc cho người đương thời và còn tồn tại mãi về sau.
Gia Định tam gia là ba nhà văn thơ rất nổi tiếng ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đều là học trò của Võ tiên sinh, gồm có: Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh. Thơ văn của ba nhà thơ này đã in thành sách Gia Định tam gia thi tập còn truyền đến ngày nay.
Nhóm thi văn tao đàn Hội Sơn xưa ở Sài Gòn cũng từng theo học Võ tiên sinh, họ là: Chỉ Sơn Trịnh Hoài Đức, Hối Sơn Hoàng Ngọc Uẩn, Nhữ Sơn Ngô Nhơn Tĩnh, Kỳ Sơn Diệp Minh Phụng...
Nếu Trịnh Hoài Đức làm “chủ soái” Gia Định tam gia và Hội Sơn thì Ngô Nhơn Tĩnh lại đứng đầu Bình Dương thi xã nổi danh phong nhã. Tĩnh là người “viết đẹp, vẽ tài” nhất đương thời.
Học trò của Võ Trường Toản không phân biệt người Việt hay Minh Hương, trong số này nổi danh hơn cả là Trịnh Hoài Đức gốc Phước Kiến và Ngô Nhơn Tĩnh gốc Quảng Đông. Song toàn thể đều ca tụng cảnh vật bằng quốc âm.
Đất uyên cõi Việt rừng nho rậm
Hay là:
Phủ Gia Định! Phủ Gia Định! Nhà đủ người no chốn chốn. Xứ Sài Gòn! Xứ Sài Gòn! Ở ăn vui thú nơi nơi....
Đông đảo thay phường Mỹ Hội,
Sum nghiêm bấy làng Tân Khai....
Gái nhơ nhởn tay vòng tay xuyến
Trai xênh xang chân hớn chân hài (3).
Họ là bọn xuất sĩ, không chỉ làm thơ văn yêu nước, mến cảnh Sài Gòn, mà còn đem tài năng ra thi thố lập được nhiều công danh, như Ngô Tùng Châu từng làm sư phó dạy Hoàng tử Cảnh, Trịnh Hoài Đức làm Thượng thư bộ Lại kiêm bộ Binh, Lê Quang Định làm Thượng thư bộ Hộ kiêm quản Khâm thiên giám, Ngô Nhơn Tĩnh làm Thượng thư bộ Công lãnh chức Hiệp trấn thành Gia Định...
Họ cũng cầm đầu ngành ngoại giao:
Năm 1801, chánh sứ Trịnh Hoài Đức cùng hai phó sứ Ngô Nhơn Tĩnh và Hoàng Ngọc Ẩn đi sứ Trung Quốc để báo tin thắng thế; Năm 1802, chánh sứ Lê Quang Định cũng đi Trung Quốc để cầu phong và xin đổi quốc hiệu (bỏ tên An Nam, lấy tên Nam Việt, nhưng vua Thanh chỉ nhận đổi là Việt Nam); Năm 1807, chánh sứ Ngô Nhơn Tĩnh đi La Bích để phong vương cho vua Chân Lạp.
Ngoài ra, họ còn trước tác các công trình “khoa học sử địa”: Trịnh Hoài Đức với Gia Định thành thông chí, Lê Quang Định với Đại Việt thống nhất dư địa chí. Ngô Nhơn Tĩnh (và chủ biên Bùi Dương Lịch) với Nghệ An phong thổ ký. Ở thời điểm này, phỉ những học trò của Võ Trường Toản đã thấm nhuần nền giáo dục “thật chất, có thuật nghiệp uyên thâm, thông đạt”, khó ai thực hiện được những công trình khoa học và bác học ấy.
Thế nên, “từ những học trò đỗ cao, quan sang (ấy) cho đến những người như Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị (có thể kể thêm Hồ Huấn Nghiệp, Bùi Hữu Nghĩa, Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Học Lạc...) sở dĩ đã giữ tròn tiết tháo khi nước nhà bị xâm lăng, đều là người có chịu ảnh hưởng của cụ” (4).
Lúc ba tỉnh miền Đông Nam kỳ mất vào tay Pháp, nhóm sĩ phu Phan Thanh Giản (cũng gốc Minh Hương), Nguyễn Thông, Phạm Hữu Chánh, Võ Gia Hội, Trương Ngọc Lang liền lo việc dựng mộ bia và di chuyển hài cốt Võ tiên sinh từ làng Hòa Hưng (Chí Hòa nay) về làng Bảo Thạnh (Bến Tre) nơi quê hương Phan Thanh Giản.
Nhưng lúc bia đang dựng thì thực dân Pháp đã chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam kỳ. Trên mộ bia ở Hòa Hưng cũng như ở Bảo Thạnh, vẫn luôn có huy hiệu khắc trên đá Gia Định xử sĩ Sùng đức Võ tiên sinh do chúa Nguyễn Ánh truy tặng. Đây là xử sĩ có công đầu trong sự nghiệp tạo hào khí Đồng Nai, nơi có “nhiều người trung dũng, khí tiết, trọng nghĩa khinh tài, dù hàng phụ nữ cũng thế” (5).
Suốt thời gian miền Nam chịu lệ thuộc và ảnh hưởng ngoại bang (1867-1945), rất ít ai nhắc đến Võ Trường Toản, ngoại trừ hai tác giả Ngạc Xuyên Ca Văn Thỉnh và Nam Xuân Thọ đã nghiêm túc nghiên cứu sự nghiệp đào tạo nhân tài và hào khí của vị xử sĩ bậc thầy này (6).
Mong rằng sẽ có những công trình nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về nhà văn hóa bậc thầy này, một ngày không xa.
Nguyễn Đình Đầu
Chú thích:
1/ Quốc sử quán triều Nguyễn – Đại Nam liệt truyện tiền biên, Viện Sử học tổ chức dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, Q.6, tr.189.
2/ Nam Xuân Thọ – Võ Trường Toản, Nxb Tân Việt, Sài Gòn, 1957.
3/ Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Khuê, Trần Khuê – Sài Gòn Gia Định qua thơ văn xưa, Nxb TP.HCM, 1987, tr.261-271. Các tác giả đặt nghi vấn chưa chắc đích xác Ngô Nhơn Tĩnh đặt bài phú này.
4/ Nam Xuân Thọ, Sđd, tr.5.
5/ Trịnh Hoài Đức – Gia Định thành thông chí, Nguyễn Tạo dịch, Tập Hạ, Nhà Văn hóa xb Sài Gòn, 1972, tr.4.
6/ Nam Xuân Thọ, Sđd, trích Ngạc Xuyên Ca Văn Thỉnh, từ tr.9-63.