26/07/2023
Ý Nghĩa Natura được dùng ít là trong bảy bối cảnh khác nhau[2]: cái gì sẵn có; bản chất sự vật; khởi thủy; thụ tạo; bản năng; tất yếu; dữ kiện; đối lại là: nhân tạo, tùy thể, lịch sử, tạo thành, văn hóa, tự do, quy ước.
1/ Natura: cái có sẵn, phú bẩm, trời ban, thiên phú.
Theo một nghĩa khá quen thuộc, natura / naturalis được hiểu như là cái gì không do bàn tay con người làm ra. Cái “tự nhiên” hiện hữu ngoài ý định của con người (chẳng hạn: nước tự nhiên, cây cối tự nhiên, hồ tự nhiên, v.v…)[3]. Những vật ấy đã hình thành trước khi con người xuất hiện trên mặt đất. Nói cho đúng, dưới một phương diện nào đó, con người cũng là một “sản phẩm tự nhiên”; tuy nhiên, thường chúng ta coi “tự nhiên” (hoặc thiên nhiên) như là cái gì ở bên ngoài con người, mà con người có thể nhìn ngắm, bảo tồn nó hoặc khai thác nó.
Hiểu theo nghĩa này, đối lại với “tự nhiên” là “nhân tạo”: cái “tự nhiên” do trời làm ra (hoặc bẩm sinh), cái nhân tạo là sản phẩm của con người (homo faber), hoặc là các sản phẩm nông nghiệp (agri cultura) hay là các sản phẩm tinh thần (animi cultura), nói gọn là “văn hóa” (cultura). Đây là nguồn gốc của sự đối chọi giữa “tự nhiên” với “văn hóa”. Theo chiều hướng này, “tự nhiên” cũng thường được hiểu như “vật chất” (hay chất liệu: materia) mà con người sử dụng để biến đổi nó, chẳng hạn: lấy trái cây để ăn, lấy gỗ cây làm nhà ở, lấy sắt làm dao cuốc, v.v… Nói cách khác, “tự nhiên” được đồng hóa với “vật chất”, và đối lại với “tinh thần”. Chúng ta sẽ trở lại với sự phân biệt này ở nghĩa thứ sáu dưới đây.
2/ Natura hiểu như bản chất sự vật (nghĩa triết học)
Như vừa nói, natura được hiểu như là cái gì hiện hữu trước khi con người can thiệp. Từ đó, nó được hiểu như là cái gì gắn với bản chất của sự vật, thuộc về cấu trúc nội tại của nó. Triết học gọi đó là “bản tính” (hay căn tính, bản sắc, bản chất)[4] định nghĩa một vật, phân biệt nó khỏi các vật khác. Theo nghĩa này, natura được nhìn dưới khía cạnh tĩnh và bất biến (bản thể), đối lại với những “phụ thể” có thể thêm bớt, thay đổi. Cũng theo lối nhìn này, cái gì không hợp với bản tính được coi là “ngang trái”, “phi pháp”.
Dù sao, nên lưu ý là tuy nói rằng bản tính nằm ở trong nội tại của con vật, nhưng việc nhận ra cái bản tính ấy là do lý trí của con người. Việc nhận định này tùy thuộc vào phán đoán của con người, và khó mà tránh cảnh “trăm người trăm ý”. Một thí dụ: để trả lời câu hỏi “con người là gì?”, chúng ta nhận được rất nhiều định nghĩa, tùy thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả về con người (từ đó có nhiều thứ nhân-sinh-quan khác nhau)[5]. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề bản tính con người ở nghĩa số bảy; ở đây chỉ cần ghi nhận việc tìm hiểu bản tính của sự vật mang theo nhiều hệ lụy về thể lý hay luân lý, chẳng hạn như khi nói rằng con người hành động trái ngược với trật tự thiên nhiên.
3/ Natura hiểu như khởi thủy (nghĩa lịch sử)
Trên đây, chúng ta đã nói rằng cái “natura” xuất hiện trước khi có con người. Điều này có thể hiểu về trạng thái tĩnh (như đã giải thích ở số 1) hoặc về trạng thái động. Natura được hiểu về tình trạng ban đầu, nguyên thủy, mở đầu cho dòng lịch sử.
Lối hiểu này thường bao hàm một sự đánh giá về dòng lịch sử hoặc tích cực hay tiêu cực: lịch sử có thể quan niệm như một cuộc tiến hóa hoặc thoái hóa.
a) Nếu quan niệm lịch sử như cuộc tiến hóa, thì cái khởi thủy đồng nghĩa với thô sơ, hoang dại, cần được cải tiến, phát huy nhờ văn hóa. Trong ngôn ngữ của dân-tộc-học, các từ “native” “primitive” mang nghĩa tiêu cực: thổ dân, bán khai, nếu chưa nói là “man di mọi rợ”, nơi áp dụng luật rừng rú.
b) Nếu quan niệm lịch sử như cuộc thoái hóa, thì cái khởi thủy đồng nghĩa với mẫu mực mà chúng ta phải quay trở về để đối chiếu, chẳng hạn thời Nghiêu Thuấn theo lịch sử Trung Hoa, thời công chính nguyên thủy trong vườn Địa đàng theo Kinh thánh, hoặc thời cộng đồng Hội thánh tiên khởi trong lịch sử Giáo hội.
Ngày nay, phần lớn các tác giả thiên về quan niệm thứ nhất, đối chọi “tự nhiên” (nature) với “văn hóa” (culture), mặc dù cũng không thiếu những phong trào cổ động “trở về với thiên nhiên”, tìm về chốn hoang dã, tránh cảnh hỗn loạn ồn ào của văn minh đô thị, đó là chưa nói đến tình trạng môi trường ô nhiễm.
4/ Natura hiểu như thiên nhiên được tạo dựng (nghĩa thần học)
Triết học Hy-lạp nghiên cứu thiên nhiên như là một thực tại đã hiện hữu, còn Kitô giáo coi thiên nhiên như là công trình do Thiên Chúa tạo dựng. Nói cách khác, thiên nhiên được nhìn trong tương quan với Thiên Chúa. Tuy nhiên, lịch sử triết học đã chứng kiến ít là ba quan điểm khác nhau về mối tương quan này.
a) Một quan điểm cho rằng Thiên Chúa tạo dựng và tiếp tục quan tâm đến vũ trụ: việc tạo dựng gắn liền với việc quan phòng. Thiên Chúa tạo thành vũ trụ cũng là Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử nhân loại.
b) Một quan điểm cho rằng Thiên Chúa giống như một kiến trúc sư thiết kế vũ trụ, và rồi cứ để cho nó chạy tự động, chứ Người không màng chi đến sự vận hành lịch sử.
c) Một quan điểm khác không muốn nhìn nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa. Thiên nhiên có những định luật tuần hành của nó mà không cần sự can thiệp từ bên ngoài.
Quan điểm thứ nhất là của thần học công giáo; quan điểm thứ hai là của vài triết gia cận đại (tựa như Descartes, Spinoza); quan điểm thứ ba là của khoa học tự nhiên hiện đại.
5/ Natura hiểu như bản năng (nghĩa tâm lý)
Nói được là những nghĩa trên đây được áp dụng cho vạn vật. Bước sang phạm vi dành riêng cho con người, chúng ta có thể hiểu “tự nhiên” như là bản năng, hoặc cảm xúc bộc phát. Lối hiểu này có thể kèm theo một phán đoán tích cực hoặc tiêu cực, tùy quan điểm của mỗi người.
a) Tích cực. “Tự nhiên” đồng nghĩa với chân thành, đơn sơ, chất phác; đối lại là: giả tạo, khách sáo, gượng gạo.
b) Tiêu cực. “Tự nhiên” đồng nghĩa với bộc phát theo bản năng, thiếu tự chủ. Đối lại là con người điềm đạm, lễ độ, biết làm chủ cảm xúc.
Các quan điểm vừa rồi chi phối không ít đến mục tiêu của công tác giáo dục. “Nhân chi sơ tính bản thiện”, hay “nhân chi sơ tính bản ác”? Phải chăng xã hội đã khiến cho cuộc sống phức tạp rắc rối hơn? Không lạ gì mà lịch sử đã ghi nhận những người muốn sống “tự nhiên” theo nghĩa là tự do phóng khoáng, bởi vì họ không muốn chịu gò bó bởi khuôn khổ do tập tục luật lệ mà xã hội đặt ra. Một cách tương tự như vậy, có người luyến tiếc tuổi thơ trong trắng, khác với thói ranh mãnh quỷ quyệt do xã hội tạo ra.
6/ Natura như quy luật tự nhiên (nghĩa của khoa học tự nhiên)
Natura được hiểu như định luật tự nhiên của vũ trụ. Các hiện tượng thiên nhiên tuân theo một định luật tất định của tương quan nhân quả. Ý nghĩa này sẽ dễ nắm bắt hơn nếu chúng ta đối chiếu với các hiện tượng “nhân văn”, diễn ra với sự can thiệp của tự do con người. Mặc dù ta có thể dự đoán diễn biến các hiện tượng chính trị kinh tế, nhưng không ai dám bảo đảm rằng kết quả sẽ xảy ra đúng trăm phần trăm, bởi vì nó lệ thuộc vào những quyết định tự do của con người, thường rất khó lường! Nói khác đi, hiểu theo nghĩa này, “tự nhiên” được xem như đối nghịch với “tự do” và với “lịch sử” (phần nào tương tự như các nghĩa số 1 và số 3). Đây cũng là cơ sở cho sự phân biệt giữa hai ngành khoa học do ông Wilhelm Dilthey đề xướng: “khoa học tự nhiên” (sciences naturelles: Naturwissenschaften) và “khoa học nhân văn” (hoặc “tinh thần”: sciences de l’esprit: Geisteswissenschften).
7/ Sự kiện xảy ra, đối lại với giá trị (nghĩa của khoa học xã hội)
Natura được xem những toàn thể các hiện tượng thiên nhiên mà ta có thể điều khiển chúng. Các hiện tượng này tự nó chẳng có ý nghĩa hoặc giá trị luân lý. Chính con người đã gán cho chúng các giá trị; vì thế các giá trị này cũng có thể thay đổi tùy theo sự đánh giá của con người. Thoạt tiên, nhận xét này xem ra có vẻ mơ hồ, nhưng kỳ thực nó mang theo những hệ luận quan trọng trong đời sống xã hội. Cái gì được coi hợp với bản tính con người và cái gì trái ngược với bản tính? Xưa nay, hôn nhân vốn diễn tả tình yêu giữa đôi nam nữ; nhưng liệu ta có thể chấp nhận hôn nhân giữa hai người cùng giới tính không? Có thể thay đổi giới tính của một người không? Có một giới hạn nào được đặt ra cho các cuộc thí nghiệm trên sự sống con người không? Ai sẽ đặt ra giới hạn ấy: luân lý hay kỹ thuật? Nói tắt, có luật luân lý tự nhiên không?
Như vậy, natura là một danh từ đa nghĩa. Có một mẫu số nào trong các nghĩa ấy không? Trong phần tiếp theo, chúng tôi cố gắng theo dõi sự phát triển của các ý nghĩa ấy theo dòng lịch sử triết học Âu Tây.
II. Lịch sử triết học tự nhiên
Tại nhiều học viện hay chủng viện công giáo, môn triết học về tự nhiên được đặt tên là “triết học tự nhiên” (philosophia naturalis), hay đôi khi cũng gọi là “vũ trụ học” (cosmologia). Thực ra, xét về lịch sử, vào lúc ban đầu, phạm vi của suy tư triết học về tự nhiên rất rộng lớn, bao gồm cả “khoa học tự nhiên” thời nay[6]. Tác phẩm của Isaac Newton về khoa học tự nhiên vẫn còn mang tựa đề bằng tiếng La-tinh là Philosophiae naturalis principia mathematica (Mathematical Principles of Natural Philosophy, 1687). Sự tách biệt hai ngành mới diễn ra vào thời cận đại, với sự phân biệt giữa “triết học” (mang tính siêu hình) và “khoa học” (mang tính thực nghiệm)[7]. Ở đây chúng tôi sẽ không đi vào nội dung của triết học tự nhiên, nhưng chỉ ôn lại những đường hướng khác nhau trong cách tiếp cận natura, được gom vào ba mục: 1/ Các triết gia cổ đại và trung đại. 2/ Các triết gia cận đại. 3/ Khoa học thực nghiệm.
A. Các triết gia cổ đại và trung đại
Những suy tư đầu tiên về natura bắt nguồn từ Hy-lạp, với những khảo luận về De Physica (Περί φυσεως) được mở đầu với ông Parmenides (cuối thế kỷ VI trước CN), với đối tượng là hiện tượng chuyển động và sản sinh của vạn vật. Đứng trước hiện tượng đó, các triết gia tìm hiểu arkhê nguyên ủy, nguồn gốc của chúng. Chúng ta hãy theo dõi sự tiến triển các quan niệm, với ông Aristote làm mốc phân chia, xét vì ảnh hưởng của tư tưởng của ông đối với hậu thế.
1/ Trước Aristote
Qua tác phẩm Physica của Aristote, chúng ta được biết các triết gia Hy-lạp có những quan điểm khác nhau về natura, do những lối tiếp cận khác nhau[8].
a) Trước hết, có một khuynh hướng coi toàn thể vũ trụ như một toàn bộ, tương tự như một sinh vật, vì thế người ta đi tìm một nguyên ủy chung cho vạn vật. Nhiều ý kiến đã được đề ra: nước (Thales), không khí (Anaxímenes), lửa (Heraclitus), đất (Xenófanes), lửa và đất (Parménides); hoặc là tất cả bốn yếu tố (Empédocles). Thuyết vật hoạt (hylozoism: vật chất có sự sống) có thể coi như tượng trưng cho khuynh hướng này. Đối lại là khuynh hướng coi vũ trụ như là một bộ máy tự động, gồm những thành phần tương tác theo các quy luật chặt chẽ. Tượng trưng cho khuynh hướng này là thuyết các nguyên tử (atomism) của Democritus, và tiếp nối nơi các triết gia Epicurus, và sau này Lucretius.
b) Kế đến, khi đi tìm nguồn gốc chuyển động, cũng lại nảy ra ít là hai khuynh hướng khác nhau: một đàng đi tìm nguồn gốc của tất cả mọi chuyển động; một đàng muốn biết đàng sau chuyển động có cái gì bất biến không. Nói cách khác, một bên nhìn ra cái toàn thể, một bên chú ý vào cấu trúc nội tại. Xét như toàn thể, natura là “vũ trụ, thiên nhiên”; xét theo cấu trúc, natura là “bản chất” của một vật.
c) Một yếu tố nữa góp phần hữu ích cho việc phân biệt giữa cái bất biến và cái chuyển động là sự quan sát xã hội loài người. Có những vật vốn hiện hữu mà không có sự can thiệp của loài người, và có những vật đã được biến đổi do sự can thiệp của loài người. Đây là nền tảng cho sự phân biệt giữa “tự nhiên” (natura) và “nhân tạo” (artefactum), hay là giữa physis và techne. Cách riêng, sự phân biệt này được nêu bật khi áp dụng vào xã hội loài người, qua sự đối chiếu giữa physis (tự nhiên) với nomos (luật lệ). Cái tự nhiên là cái bất biến, còn luật lệ thì có sự can thiệp của con người. Đường hướng này bắt đầu từ các triết gia sophistas[9] và trở nên rõ rệt hơn nơi ông Socrates. Ông quan niệm physis như là yếu tố bất biến trong trật tự luân lý, cái thực tại tất yếu và nguyên thủy, chung cho tất cả mọi dân tộc; đối lại, nomos – các luật lệ, tập tục thì thay đổi nơi các dân tộc, và vì thế mang tính tương đối.
d) Ông Platon cũng góp phần đáng kể vào cuộc tranh luận này. Ông chống lại khuynh hướng nguyên tử của Democritus. Ông Democritus chỉ nhìn thấy vật chất vận hành theo quy luật máy móc; ông Platon không những phân biệt thế giới khả giác và thế giới ý tưởng, mà còn khẳng định rằng thế giới ý tưởng mới thật là nguyên lý của vạn vật, còn thế giới khả giác chỉ là phản ánh của thế giới ý tưởng. Dù sao, đối với Platon, thế giới không chỉ là một khối vật chất, mà còn có linh hồn và trí tuệ.
2/ Ông Aristote
Trái với ông Platon là thầy của mình, ông Aristote khẳng định vật chất là thực hữu, chứ không phải là phản ánh của thế giới ý tưởng. Ý tưởng phổ quát nằm trong đầu óc của ta, kết quả của hành vi trừu xuất của lý trí khi quan sát và phân tích sự vật, chứ không có hiện hữu tự lập.
Dựa trên quan điểm của những người đi trước, ông Aristote đưa ra nhiều thứ phân biệt khi bàn về natura.
a) Ta có thể nghiên cứu natura từ hai lối tiếp cận: một là xét toàn thể vạn vật, hai là bàn đến mỗi vật hiện hữu. Xét theo lối tiếp cận thứ nhất, natura có thể gọi là vũ trụ (cosmos), hay thiên nhiên. Xét theo lối tiếp cận thứ hai, natura gọi là bản chất (essentia) của sự vật.
b) Ta có thể khởi đầu bằng lối tiếp cận thứ hai:
– Mỗi vật hàm chứa trong mình nguyên nhân của sự chuyển động. Mọi chuyển động hàm ngụ một yếu tố không thay đổi và một yếu tố thay đổi. Yếu tố không thay đổi, làm nên bản chất của sự vật mà ta gọi là “bản thể” (substantia), đối lại với các yếu tố thay đổi mà ta gọi là “phụ thể” (accidens). Trong bản thể, cần phân biệt yếu tố “hình thức” (hay mô thể: forma) định hình và yếu tố “chất thể” (materia) đón nhận cái hình thức. Cái chất thể thì chung, còn cái mô hình thì đặc thù.
– Sự chuyển động có thể phát xuất từ nội tại hay từ phía bên ngoài. Nguồn gốc của chuyển động nội tại là chính bản chất của nó. Sự chuyển động cũng có thể bắt nguồn từ bên ngoài; ta gọi là “nguyên nhân tác thành” (efficient cause). Ngoài ra, vật cũng có thể chuyển động hướng đến một mục đích nào đó; ta gọi đó là “nguyên nhân cứu cánh” (final cause).
Đó chỉ là một khái niệm đơn giản về học thuyết của Aristote, để nêu bật sự liên hệ giữa các ý tưởng natura (physica) với các ý tưởng essentia, substantia cũng như causa.
c) Những phân tích cơ cấu nội tại của mỗi vật phần nào cũng có thể áp dụng cho natura hiểu theo nghĩa là toàn thể vạn vật, cách riêng liên quan đến việc tìm hiểu nguyên nhân đệ nhất của tất cả mọi chuyển động, cũng như cứu cánh tối hậu của mọi chuyển động.
3/ Sau Aristote
Ông Aristote để lại ảnh hưởng lâu dài trong suy tư về natura. Điều đáng nói thêm là những thế hệ sau ông ít nghiên cứu về natura của vạn vật cho bằng natura của con người, cách riêng trong lãnh vực luân lý. Từ đó nảy ra vấn đề làm sao sống phù hợp với natura, nghĩa là phù hợp với luật phổ quát điều khiển vũ trụ.
4/ Thời trung đại
Khi các đại học được thành lập tại Âu châu vào thế kỷ XII, triết học tự nhiên được đưa vào học trình, bao gồm một phạm vi rất rộng rãi.
Triết học Hy-lạp đã được tiếp nhận vào thế giớiCcông giáo với vài bổ túc không nhỏ. Sự điều chỉnh thứ nhất là natura, xét như là thiên nhiên, không phải tự hữu nhưng được tạo dựng bởi Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ theo một trật tự và cứu cánh. Chúng ta cũng không nên quên là triết học Hy-lạp mang hai bộ mặt chính là học thuyết Aristote và học thuyết tân Platon.
a) Học thuyết Aristote được đưa vào Âu châu qua sự giải thích của Maimonides và Averroes. Thánh Albertô và Tôma Aquinô đã tìm cách giải quyết những xung khắc giữa triết học và đức tin công giáo. Hai vị này đã phân biệt lãnh vực đức tin và lý trí, cách riêng khi bàn về sự tạo dựng. Theo đức tin, vũ trụ được tạo dựng trong thời gian; tuy nhiên, theo lý trí, sự tạo dựng không trái nghịch với sự hiện hữu vĩnh hằng của vũ trụ: sự tạo dựng chỉ nói lên sự lệ thuộc về nguyên nhân tác thành chứ không nhất thiết bao hàm thứ tự thời gian[10].
b) Học thuyết tân Platon được truyền lại nhờ Plotinus. Họ quan niệm vạn vật như một toàn bộ thống nhất, với một nguyên ủy ví được như linh hồn vũ trụ (anima mundi). Tất cả phát xuất từ cái Nhất và quay về với Nhất. Tuy nhiên, quan niệm này cũng dễ rơi vào chủ nghĩa phiếm thần (pantheismus) khi gán cho vũ trụ những đặc tính linh thiêng, và được sử dụng vào việc ma thuật (magie), hoặc thuật luyện đan (alchimie).
B. Các triết gia cận đại
Quan niệm về vũ trụ đã thay đổi với sự khám phá của Nicola Copernico (1473-1543), lấy tâm điểm là mặt trời thay vì trái đất. Tuy nhiên, xét về lối tiếp cận, chúng ta gặp lại hai khuynh hướng đã chớm nở từ các triết gia Hy-lạp: một bên quan niệm nó là một tổng thể có sức sống (nếu chưa nói là linh hồn), một bên chỉ nhìn nó như một khối vật chất chuyển động theo những quy định có tính máy móc. Khuynh hướng thứ hai thắng thế nhờ sự yểm trợ của khoa học thực nghiệm, tuy vậy, thỉnh thoảng người ta cũng chứng kiến sự vùng dậy của khuynh hướng thứ nhất. Chúng ta hãy điểm qua vài khuôn mặt tiêu biểu.
1/ Khuynh hướng quan niệm vũ trụ như bộ máy
Ông Descartes được xem như người vạch khúc ngoặt của triết học vào thời cận đại. Khởi điểm của ông là chính chủ thể của con người suy tư. Thứ tự đã bị đảo ngược: trước đây, con người chấp nhận sự hiện hữu của vạn vật, và suy tư dựa theo đó; bây giờ, con người khởi đi từ nhận thức của chủ thể, và sự hiện hữu của ngoại vật tùy thuộc vào quan niệm của con người. Không phải là con người phải thích nghi với ngoại vật, nhưng ngoại vật lệ thuộc vào tư tưởng của con người. Con người tách ra khỏi tự nhiên, và khám phá những quy luật chi phối tự nhiên. Tất cả dựa trên phán đoán của con người. Từ đó có sự đối chọi giữa con người (res cogitans) với tự nhiên (res extensa), nghĩa là giữa tư tưởng và vật chất.
2/ Quan niệm “duy tâm” về vũ trụ
Trong khi Descartes muốn giải thích vạn vật theo những quy luật tất định của vật chất, thì đối lại, Spinoza lại chấp nhận yếu tố tâm linh trong tự nhiên, thậm chí ông còn đồng hóa tự nhiên với Thiên Chúa (Deus sive natura).
Khuynh hướng “duy tâm” của vũ trụ cũng tái xuất hiện nơi các triết gia bên Đức hồi thế kỷ XVIII, tựa như Schelling, Hegel, Schopenhauer.
C. Khoa học thực nghiệm
Vào thời Trung cổ, tại các đại học, “triết học tự nhiên” bao gồm cả khía cạnh siêu hình lẫn khía cạnh thực nghiệm. Vào thời cận đại, “triết học tự nhiên” và “khoa học tự nhiên” là hai ngành tách biệt. Ở đây chúng tôi chỉ giới hạn vào một vài nhận xét tổng quát.
Khoa học cắt đứt khỏi siêu hình (physica khác với metaphysica). Khoa học dùng phương pháp thực nghiệm, chứ không bận tâm với những gì “siêu hình”. Điều này đưa đến nhiều hệ quả quan trọng:
– Khoa học không bận tâm đến việc truy tầm những “nguyên nhân bên ngoài thế giới”, (chẳng hạn như Đấng Tạo hóa) và cũng không đặt vấn đề “nguyên nhân cứu cánh” của vũ trụ.
– “Natura” được xem như một khối vật chất ở bên ngoài con người, được gọi là “tự nhiên” hay “thiên nhiên”, hay “vũ trụ”. Như vậy, con người không còn là thành phần của natura nữa. Đó là nền tảng cho sự phân chia giữa “khoa học tự nhiên” và “khoa học nhân văn”. Nên ghi nhận một sự thay đổi nữa về từ ngữ: xưa kia, “natura” và “physica” đồng nghĩa với nhau, nhưng dần dần, trong ngành “khoa học tự nhiên” (natural sciences) nảy ra nhiều chuyên ngành khảo cứu, trong đó physica là một đối tượng chuyên biệt (gọi là vật lý), khác với các ngành sinh vật học, địa chất học, hóa học, vv … Tuy nhiên tất cả có cùng một quan niệm chung về phương pháp nghiên cứu là phương pháp thực nghiệm, cũng như một đối tượng chung là vũ trụ vật chất.
– Các tiền đề vừa rồi ảnh hưởng đến quan niệm về “định luật tự nhiên”. Những định luật này không do Đấng Tạo hóa quy định, cũng không nằm trong bản tính của các vật, nhưng là những kết luận của các quan sát thực nghiệm sau nhiều lần thí nghiệm và kiểm chứng theo phương pháp quy nạp[11]. Như vậy, các định luật này do lý trí phát biểu, dựa theo sự quan sát liên hệ nhân quả giữa hai hiện tượng (nguyên nhân tác thành).
Do đó, chúng ta phải thận trọng khi gặp thuật ngữ “luật tự nhiên” (natural law, laws of nature), bởi vì nó có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo các tác giả và đặc biệt tùy theo góc độ tiếp cận.
III. Sử dụng từ “natura” trong thần học
Sự phân biệt giữa triết học và thần học thường dựa trên tiêu chuẩn “nguồn mạch” hay cơ sở lý luận: triết học dựa trên lý trí, còn thần học dựa trên các dữ kiện của mặc khải. Một nguồn chính của mặc khải là Kinh thánh. Một câu hỏi đầu tiên được đặt ra là: Kinh thánh nói gì về natura? Tiếp đến, chúng tôi sẽ trình bày những ý nghĩa của “theologia naturalis”, và cũng như những ý nghĩa của natura trong thần học tín lý và luân lý.
A. Natura trong Kinh thánh
Việc khảo sát ý nghĩa natura trong Kinh thánh vấp phải hai trở ngại chính: một là từ ngữ và hai là quan niệm.
Trước hết, lý do từ ngữ: natura là danh từ tiếng La-tinh, đang khi Kinh thánh thì được viết bằng tiếng Híp-ri và tiếng Hy-lạp. Như vậy ta cần phải khảo sát những từ tương đương trong hai ngôn ngữ ấy, chứ không thể nào khởi đi bằng tiếng La-tinh. Từ ngữ tương đương trong tiếng Hy-lạp (ngôn ngữ của Tân ước và của bản dịch LXX) là physis, nhưng từ này có thể tương đương với nhiều từ khác nhau trong tiếng Híp-ri.
Điều khó khăn thứ hai còn lớn hơn nữa, đó là sự khác biệt về “ý thức hệ”. Não trạng của người Do-thái mang tính cụ thể, khác với đầu óc người Hy-lạp thích những khái niệm trừu tượng[12]. Đàng khác, Kinh thánh nhìn vũ trụ như thụ tạo trong tương quan với Thiên Chúa, chứ không như một thực thể độc lập, lại càng không thể nào như là thần linh.
Dù sao, chúng ta có thể dùng hai lối tiếp cận khác nhau để nghiên cứu natura trong Kinh thánh: một đàng là dựa theo từ ngữ, một đàng là dựa theo tư tưởng.
1/ Dựa theo từ ngữ: physis, physicos
Trong Cựu ước, physis chỉ xuất hiện trong bản LXX, ở sách Khôn ngoan (3 lần) và trong sách Macabê quyển Ba và Bốn.
Trong Tân ước, physis được gặp thấy 14 lần, nhiều nhất trong các thư của thánh Phaolô, đặc biệt là trong thư gửi Rôma (7 lần) và họa huần trong 1Cr, Gl, Ep; từ physis cũng gặp thấy trong Gc và 2Pr. Tiếc rằng đây là một từ đa nghĩa.
Ý nghĩa đơn giản hơn cả là “đặc tính gắn liền” với một người hay một vật (Rm 1,26; 2,14; 11,24; 1Cr 11,14; Gl 4,8), hoặc “gắn liền với sự sinh ra” (Ep 2,3; Rm 2,27; Gl 2,15).
Đi vào chi tiết, từ physis xuất hiện trong nhiều bối cảnh khác nhau:
– Con người và súc vật: “Mọi loài (physis) thú vật và chim chóc, loài bò sát và cá biển, thì loài người (physei tei anthropinê) đều có thể chế ngự được và đã chế ngự được” (Gc 3,7). Trên thế giới này có nhiều loài, trong đó có loài người nữa, được Thiên Chúa dựng nên.
– Bản tính Thiên Chúa. Thuật ngữ này được gặp nơi 2Pr 1,4: các tín hữu được thông dự vào “bản tính Thiên Chúa” nhờ cuộc tái sinh, được khai mào bởi cuộc phục sinh của Đức Kitô. Nếu nói theo triết học, thì ở đây “bản tính Thiên Chúa” được dùng theo nghĩa loại suy, xét vì Thiên Chúa không được “sinh ra”, như từ ngữ physis hàm ý.
– Nòi giống. Thật vậy, ý tưởng “sinh ra” được hiểu trong thư gửi Rôma, khi tác giả nói đến dòng giống dân Do-thái như là cây ô-liu tự nhiên (được hưởng nhờ ơn cứu độ), còn dân ngoại thì được tháp vào (Rm 11,21-24).
– Lương tâm. Trong khi dân Do-thái được Thiên Chúa ban Lề luật để hướng dẫn cách thức hành động, các dân khác cũng có luật luân lý để hướng dẫn hành động theo bản tính của mình: “Dân ngoại là những người không có luật Môsê; nhưng mỗi khi họ theo lẽ tự nhiên mà làm những gì Luật dạy, thì là Luật cho chính mình, mặc dầu họ không có Luật Môsê. Họ cho thấy là điều gì Luật đòi hỏi, thì đã được ghi khắc trong trái tim của họ. Lương tâm họ cũng chứng thực điều đó, vì họ tự phán đoán trong lòng, khi thì cho mình là trái, khi thì cho mình là phải” (Rm 2,14-15).
– Bản tính. Lương tâm dạy cho con người cách thức hành động phù hợp với bản tính của mình. Trên thực tế, thánh Tông đồ cho thấy có những người hành động đi ngược với “trật tự tự nhiên” trong phạm vi tính dục (Rm 1,26-27), khiến cho họ cư xử như thú vật (2Pr 2,12). Tuy nhiên, trong thư thứ nhất gửi Corintô, thánh Phaolô nói đến chuyện để tóc ngắn hay tóc dài theo lẽ tự nhiên (1Cr 11,14-15), nhưng ở đây “tự nhiên” có lẽ hiểu về phong tục chứ không phải là theo bản tính (câu 16).