07/04/2026
Công văn hướng dẫn cấp Giấy chứng nhận QSDĐ theo bản án (Công văn 548/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ)
Tư vấn pháp luật; tham gia tranh tụng; đại diện uỷ quyền, tư vấn pháp luật miễn phí
(1)
Công văn hướng dẫn cấp Giấy chứng nhận QSDĐ theo bản án (Công văn 548/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ)
KHỞI KIỆN YÊU CẦU UBND CHẤM DỨT HÀNH VI XÁC NHẬN NGUỒN GỐC ĐẤT - TUYÊN BỐ HÀNH VI XÁC NHẬN TẠI BIÊN BẢN XÁC MINH ĐẤT TRÁI PHÁP LUẬT
--‐-----------
Bản án hành chính phúc thẩm số 02/2026/HC-PT ngày 13/01/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Cre: Tôi yêu luật
Ngày 30/03/2026, Bộ Tư pháp đã công bố Hồ sơ thẩm định dự thảo Nghị quyết về việc thực hiện thí điểm chế định luật sư công.
Theo Điều 1 Dự thảo Nghị quyết về việc thực hiện thí điểm chế định luật sư công đề xuất thí điểm luật sư công áp dụng tại:
+ 8 Bộ, gồm: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
+ Ủy ban nhân dân 10 tỉnh, thành phố, gồm: Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bắc Ninh.
Xem chi tiết tại bài viết sau:
https://thuvienphapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/de-xuat-thi-diem-luat-su-cong-tai-8-bo-va-10-tinh-thanh-pho-dung-khong-138085460.html
Án lệ: Cá nhân được Nhà nước cấp đất nhưng không sử dụng mà để người khác quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài từ khi được giao đất. Trong quá trình sử dụng đất, người này đã tôn tạo đất, xây dựng nhà ở ổn định, đăng ký kê khai quyền sử dụng đất mà người được cấp đất không có ý kiến gì.
Trường hợp này, Tòa án không chấp nhận yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất.
Công văn hướng dẫn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu do Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện👇👇👇
Công văn hướng dẫn cấp sổ đỏ cần làm rõ lối đi chung và địa chỉ thửa đất (Công văn 376/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ)
CỤC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI hướng dẫn thẩm quyền giao đất cho UBND cấp xã (Công văn 666/QLĐĐ-QHGĐ)
Tổng hợp 82 Án lệ Việt Nam mới nhất hiện nay
Bài viết dưới đây sẽ tổng hợp đầy đủ 82 án lệ Việt Nam mới nhất hiện nay, giúp bạn dễ dàng tra cứu, hệ thống hóa và cập nhật các định hướng xét xử quan trọng.
1. Án lệ là gì?
Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử.
→ Căn cứ pháp lý: Điều 1 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ.
2. Tiêu chí lựa chọn án lệ
Căn cứ theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP, Án lệ được lựa chọn phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:
Có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể hoặc thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể
Có tính chuẩn mực
Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử
3. Tổng hợp 82 án lệ Việt Nam mới nhất hiện nay
Hiện nay, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cáo đã ban hành và áp dụng tổng cộng 82 án lệ có hiệu lực. Dưới đây, Nguyen Phuong Law & Partners đã tổng hợp đầy đủ 82 án lệ đang áp dụng cho đến nay.
1
Án lệ số 82/2025/AL về xác định tài sản chung của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn
Thông qua: 24/12/2025
Áp dụng: 01/02/2026
2
ÁN LỆ SỐ 81/2025/AL về xác định tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản
Thông qua: 24/12/2025
Áp dụng: 01/02/2026
3
Án lệ số 80/2025/AL về việc tặng cho vé số của vợ, chồng
Thông qua: 24/12/2025
Áp dụng: 01/02/2026
4
Án lệ số 79/2025/AL về chủ thể giao kết hợp đồng đặt cọc và hiệu lực của hợp đồng đặt cọc
Thông qua: 24/12/2025
Áp dụng: 01/02/2026
5
Án lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty
Thông qua: 24/12/2025
Áp dụng: 01/02/2026
6
Án lệ số 77/2025/AL về việc vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin tình trạng bệnh hiểm nghèo của bên mua bảo hiểm
Thông qua: 24/12/2025
Áp dụng: 01/02/2026
7
Án lệ số 76/2025/AL về việc tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội chưa sang tên
Thông qua: 24/12/2025
Áp dụng: 01/02/2026
8
Án lệ số 75/2025/AL về thủ đoạn gian dối để trộm cắp tài sản
Thông qua: 24/12/2025
Áp dụng: 01/02/2026
9
Án lệ số 74/2025/AL về việc định tội danh “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi chiếm đoạt tài sản của mình đang bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ
Thông qua: 24/12/2025
Áp dụng: 01/02/2026
10
Án lệ số 73/2025/AL về việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng”
Thông qua: 24/12/2025
Áp dụng: 01/02/2026
11
Án lệ số 72/2024/AL về xác định di sản thừa kế là quyền sử dụng đất trong trường hợp di chúc không thể hiện diện tích đất cụ thể
Thông qua: 20/02/2024
Áp dụng: 15/06/2024
12
Án lệ số 71/2024/AL về việc đình chỉ giải quyết vụ án với lý do sự việc đã được giải quyết
Thông qua: 20/02/2024
Áp dụng: 15/06/2024
13
Án lệ số 70/2023/AL về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách
Thông qua: 18/08/2023
Áp dụng: 01/11/2023
14
Án lệ số 69/2023/AL về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh
Thông qua: 18/08/2023
Áp dụng: 01/11/2023
15
Án lệ số 68/2023/AL về quyền nhận di sản bằng hiện vật là nhà ở của người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Thông qua: 18/08/2023
Áp dụng: 01/11/2023
16
Án lệ số 67/2023/AL về người được nhận hiện vật khi chia tài sản chung
Thông qua: 18/08/2023
Áp dụng: 01/11/2023
17
Án lệ số 66/2023/AL về việc xác định tội danh “Mua bán người”
Thông qua: 18/08/2023
Áp dụng: 01/11/2023
18
Án lệ số 65/2023/AL về truy cứu trách nhiệm hình sự tội "Mua bán người"
Thông qua: 18/08/2023
Áp dụng: 01/11/2023
19
Án lệ số 64/2023/AL về định khung hình phạt và tình tiết định khung tăng nặng "có tổ chức" trong tội "Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản"
Thông qua: 18/08/2023
Áp dụng: 01/11/2023
20
Án lệ số 63/2023/AL về xem xét quyết định hành chính có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện
Thông qua: 01/02/2023
Áp dụng: 27/03/2023
21
Án lệ số 62/2023/AL về thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên
Thông qua: 01/02/2023
Áp dụng: 27/03/2023
22
Án lệ số 61/2023/AL về chấm dứt việc nuôi con nuôi khi con nuôi chưa thành niên
Thông qua: 01/02/2023
Áp dụng: 27/03/2023
23
Án lệ số 60/2023/AL về thời hạn trả thưởng xổ số kiến thiết
Thông qua: 01/02/2023
Áp dụng: 27/03/2023
24
Án lệ số 59/2023/AL về lỗi cố ý gián tiếp trong vụ án “Giết người”
Thông qua: 01/02/2023
Áp dụng: 27/03/2023
25
Án lệ số 58/2023/AL về tình tiết định khung hình phạt tại điểm c khoản 3 Điều 244 BLHS
Thông qua: 01/02/2023
Áp dụng: 27/03/2023
26
Án lệ số 57/2023/AL về hành vi gian dối nhằm tiếp cận tài sản trong tội “Cướp giật tài sản”
Thông qua: 01/02/2023
Áp dụng: 27/03/2023
27
Án lệ số 56/2022/AL về việc giải quyết tranh chấp di dời mồ mả
Thông qua: 07/09/2022
Áp dụng: 14/10/2022
28
Án lệ số 55/2022/AL về công nhận hiệu lực của hợp đồng vi phạm điều kiện về hình thức
Thông qua: 07/09/2022
Áp dụng: 14/10/2022
29
Án lệ số 54/2022/AL về xác định quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong trường hợp người mẹ không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
Thông qua: 07/09/2022
Áp dụng: 14/10/2022
30
Án lệ số 53/2022/AL về việc hủy kết hôn trái pháp luật
Thông qua: 07/09/2022
Áp dụng: 14/10/2022
31
Án lệ số 52/2021/AL về hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất khi chưa đăng ký quyền sử dụng đất
Thông qua: 25/11/2021
Áp dụng: 31/12/2021
32
Án lệ số 51/2021/AL về xác định quyền sở hữu đối với khu vực để xe ô tô của nhà chung cư
Thông qua: 25/11/2021
Áp dụng: 31/12/2021
33
Án lệ số 50/2021/AL về quyền khởi kiện vụ án đòi lại tài sản của người được giao tài sản theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
Thông qua: 25/11/2021
Áp dụng: 31/12/2021
34
Án lệ số 49/2021/AL về xác định quyết định hành chính ban hành không đúng thẩm quyền
Thông qua: 25/11/2021
Áp dụng: 31/12/2021
35
Án lệ số 48/2021/AL về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “nộp lại tiền thu lợi bất chính”
Thông qua: 25/11/2021
Áp dụng: 31/12/2021
36
Án lệ số 47/2021/AL về việc xác định tội danh trong trường hợp bị cáo dùng hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu của cơ thể bị hại
Thông qua: 25/11/2021
Áp dụng: 31/12/2021
37
Án lệ số 46/2021/AL về việc xác định tình tiết định khung hình phạt “Đối với trẻ em mà người phạm tội có trách nhiệm giáo dục” trong tội “Dâm ô đối với trẻ em”
Thông qua: 25/11/2021
Áp dụng: 31/12/2021
38
Án lệ số 45/2021/AL về xác định bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt”
Thông qua: 25/11/2021
Áp dụng: 31/12/2021
39
Án lệ số 44/2021/AL về việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu phản tố
Thông qua: 25/11/2021
Áp dụng: 31/12/2021
40
Án lệ số 43/2021/AL về hiệu lực của hợp đồng thế chấp trong trường hợp tài sản thế chấp là nhà đất do bên thế chấp nhận chuyển nhượng từ người khác nhưng chưa thanh toán đủ tiền cho bên bán
Thông qua: 24/02/2021
Áp dụng: 15/04/2021
41
Án lệ số 42/2021/AL về quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có thỏa thuận trọng tài
Thông qua: 24/02/2021
Áp dụng: 15/04/2021
42
Án lệ số 41/2021/AL về chấm dứt hôn nhân thực tế
Thông qua: 23/02/2021
Áp dụng: 15/04/2021
43
Án lệ số 40/2021/AL về công nhận việc chuyển đổi quyền sử dụng đất trên thực tế
Thông qua: 23/02/2021
Áp dụng: 15/04/2021
44
Án lệ số 39/2020/AL về xác định giao dịch dân sự có điều kiện vô hiệu do điều kiện không thể xảy ra
Thông qua: 13/08/2020
Áp dụng: 15/11/2020
45
Án lệ số 38/2020/AL về việc không thụ lý yêu cầu đòi tài sản đã được phân chia bằng bản án có hiệu lực pháp luật
Thông qua: 13/08/2020
Áp dụng: 15/11/2020
46
Án lệ số 37/2020/AL về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tài sản trong trường hợp bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm sau khi kết thúc thời hạn đóng phí bảo hiểm
Thông qua: 05/02/2020
Áp dụng: 15/04/2020
47
Án lệ số 36/2020/AL về hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thu hồi, hủy bỏ
Thông qua: 05/02/2020
Áp dụng: 15/04/2020
48
Án lệ số 35/2020/AL về người Việt Nam trước khi định cư ở nước ngoài giao lại đất nông nghiệp cho người ở trong nước sử dụng
Thông qua: 05/02/2020
Áp dụng: 15/04/2020
49
Án lệ số 34/2020/AL về quyền lập di chúc định đoạt giá trị bồi thường về đất trong trường hợp đất bị Nhà nước thu hồi có bồi thường
Thông qua: 05/02/2020
Áp dụng: 15/04/2020
50
Án lệ số 33/2020/AL về trường hợp cá nhân được Nhà nước giao đất nhưng không sử dụng mà để người khác quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài
Thông qua: 05/02/2020
Áp dụng: 15/04/2020
51
Án lệ số 32/2020/AL về trường hợp đất do cá nhân khai phá nhưng sau đó xuất cảnh định cư ở nước ngoài và người khác đã quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài
Thông qua: 05/02/2020
Áp dụng: 15/04/2020
52
Án lệ số 31/2020/AL về xác định quyền thuê nhà, mua nhà thuộc sở hữu của Nhà nước theo Nghị định số 61/CP ngày 05-7-1994 của Chính phủ về quyền tài sản
Thông qua: 05/02/2020
Áp dụng: 15/04/2020
53
Án lệ số 30/2020/AL về hành vi cố ý điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi gây tai nạn
Thông qua: 05/02/2020
Áp dụng: 15/04/2020
54
Án lệ số 29/2019/AL về tài sản bị chiếm đoạt trong tội “Cướp tài sản”
Thông qua: 22/08/2019
Áp dụng: 10/10/2019
55
Án lệ số 29/2019/AL về tài sản bị chiếm đoạt trong tội “Cướp tài sản”
Thông qua: 22/08/2019
Áp dụng: 10/10/2019
56
Án lệ số 27/2019/AL về thụ lý, giải quyết vụ án hành chính liên quan đến nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/7/1991
Thông qua: 22/08/2019
Áp dụng: 10/10/2019
57
Án lệ số 26/2018/AL về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản
Thông qua: 17/10/2018
Áp dụng: 03/12/2018
58
Án lệ số 25/2018/AL về không phải chịu phạt cọc vì lý do khách quan
Thông qua: 17/10/2018
Áp dụng: 03/12/2018
59
Án lệ số 24/2018/AL về di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân
Thông qua: 17/10/2018
Áp dụng: 03/12/2018
60
Án lệ số 23/2018/AL về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khi bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm do lỗi của doanh nghiệp bảo hiểm
Thông qua: 17/10/2018
Áp dụng: 03/12/2018
61
Án lệ số 22/2018/AL về không vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Thông qua: 17/10/2018
Áp dụng: 03/12/2018
62
Án lệ số 21/2018/AL về lỗi và thiệt hại trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng cho thuê tài sản
Thông qua: 17/10/2018
Áp dụng: 03/12/2018
63
Án lệ số 20/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc
Thông qua: 17/10/2018
Áp dụng: 03/12/2018
64
Án lệ số 19/2018/AL về xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong tội “Tham ô tài sản”
Thông qua: 17/10/2018
Áp dụng: 03/12/2018
65
Án lệ số 18/2018/AL về hành vi giết người đang thi hành công vụ trong tội “Giết người”
Thông qua: 17/10/2018
Áp dụng: 03/12/2018
66
Án lệ số 17/2018/AL về tình tiết “Có tính chất côn đồ” trong tội “Giết người” có đồng phạm
Thông qua: 17/10/2018
Áp dụng: 03/12/2018
67
Án lệ số 16/2017/AL về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng
Thông qua: 14/12/2017
Áp dụng: 15/02/2018
68
Án lệ số 15/2017/AL về công nhận thỏa thuận miệng của các đương sự trong việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp
Thông qua: 14/12/2017
Áp dụng: 15/02/2018
69
Án lệ số 14/2017/AL về công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà điều kiện đó không được ghi trong hợp đồng
Thông qua: 14/12/2017
Áp dụng: 15/02/2018
70
Án lệ số 13/2017/AL về hiệu lực thanh toán của thư tín dụng (L/C) trong trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của L/C bị hủy bỏ
Thông qua: 14/12/2017
Áp dụng: 15/02/2018
71
Án lệ số 12/2017/AL về xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa
Thông qua: 14/12/2017
Áp dụng: 15/02/2018
72
Án lệ số 11/2017/AL công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Thông qua: 14/12/2017
Áp dụng: 15/02/2018
73
Án lệ số 10/2016/AL về quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính
Thông qua: 17/10/2016
Áp dụng: 01/12/2016
74
Án lệ số 09/2016/AL ngày 17/10/2016 về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại
Thông qua: 17/10/2016
Áp dụng: 01/12/2016
75
Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm
Thông qua: 17/10/2016
Áp dụng: 01/12/2016
76
Án lệ số 07/2016/AL về công nhận hợp đồng mua bán nhà trước ngày 01/7/1991
Thông qua: 17/10/2016
Áp dụng: 01/12/2016
77
Án lệ số 06/2016/AL về vụ án "Tranh chấp thừa kế"
Thông qua: 06/04/2016
Áp dụng: 25/05/2016
78
Án lệ số 05/2016/AL về vụ án "Tranh chấp tài sản thừa kế"
Thông qua: 06/04/2016
Áp dụng: 25/05/2016
79
Án lệ số 04/2016/AL về vụ án "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
Thông qua: 25/05/2016
Áp dụng: 25/05/2016
80
Án lệ số 03/2016/AL về việc Ly hôn tranh chấp tài sản
Thông qua: 06/04/2016
Áp dụng: 25/05/2016
81
Án lệ số 02/2016/AL về tranh chấp đòi lại tài sản
Thông qua: 06/04/2016
Áp dụng: 25/05/2016
82
Án lệ số 01/2016/AL về tội giết người
Thông qua: 06/04/2016
Áp dụng: 25/05/2016
[BẢN ÁN] – Sửa án, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì Toà án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào bản đồ địa chính để buộc bị đơn trả lại 24m², mà không căn cứ vào ranh giới thực tế đã được các bên thừa nhận và quá trình sử dụng đất, cũng như quy định pháp luật là chưa phù hợp
--------------------------------------------
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà, hội đồng xét xử thấy:
[1.] Về hồ sơ pháp lý và theo bản đồ địa chính tại B, xã Đ, Thái Nguyên thì 24m² đất các bên đương sự đang tranh chấp nằm trong thửa đất 138 tờ bản đồ số 58, đã được UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất ngày 05/01/2013 mang tên cụ Nguyễn Thị M1. Ngày 04/3/2019, Sở Tài nguyên môi trường tỉnh T cấp chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ109142, thửa đất 138 tờ bản đồ số 58, diện tích là 955m² (trong đó có 340m² đất ONT, 615m² đất CLN) cho ông Phan Văn Q.
[2.] Về quá trình sử dụng đất:
[2.1.]. Bị đơn khai: Đất của gia đình có nguồn gốc do ông ngoại Đinh Văn H3 tặng cho từ năm 1986, năm 1996 đã được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 147, tờ bản đồ số 58, diện tích 1.031m², gia đình sử dụng đất ổn định từ đó, đến năm 2024 mới phát sinh tranh chấp. Trước đây ranh giới thửa đất 147 và thửa đất 138 của ông P bà M1 được xác định bằng hàng rào cúc tần, đến năm 2008 thì được thay thế bằng hàng rào gạch như hiện nay do Bị đơn xây, khi xây đã xây cách đất nhà cụ M1 (anh Q) khoảng 02mét. Năm 2009, gia đình anh Q xây bức tả ly, liền kề bức tường của gia đình. Năm 2021, bức tường bị đổ nên gia đình xây lại theo vị trí cũ. Năm 2023, khi mở đường 27/7 phía nguyên đơn đo lại đất và cho rằng đất của gia đình bị thiếu theo giấy CNQSD đất và BĐĐC nên năm 2024 khởi kiện ra Tòa yêu cầu giải quyết. Hiện trạng đất của bị đơn luôn cao hơn đất của nguyên đơn vì thửa đất 147 là ở trên đình đối, còn thửa đất 138 là ở dưới chân đồi.
[2.3.]. Tài liệu trong hồ sơ và từ lời khai của các đương sự, những người làm chứng xác định được: Phần diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 138 tờ bản đồ số 58 của ông Q, tuy nhiên người thực tế sử dụng đất lại là hộ gia đình ông T. Gianh giới, mốc giới của thửa đất 138 và 147 đã được hình thành từ năm 1986 là hàng rào cúc tần, đến năm 2008 được thay thế bằng hàng rào gạch (do bị đơn xây) và tồn tại cho đến nay không thay đổi vị trí, điều này đã được các bên đương sự cùng thừa nhận tại phiên tòa phúc thẩm nên là sự kiện không phải chứng minh theo khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.4.]. Như vậy, ranh giới mốc giới giữa thửa đất 147 và 138 đã được hai bên gia đình cùng thống nhất xác định từ năm 1986 đến khi phát sinh tranh chấp năm 2024 là 37 năm, được phía ông T sử dụng công khai, liên tục, trước cả thời điểm các bên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy ranh giới này cần phải được tôn trọng và công nhận, điều này là phù hợp với thực tế sửdụng đất của các bên và quy định của pháp luật.
[2.5.]. Theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật dân sự thì “Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp…”. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào bản đồ địa chính để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc phía bị đơn phải trả lại 24m² đất mà không căn cứ vào ranh giới thực tế đã được các bên thửa nhận và quá trình sử dụng đất, cũng như quy định của pháp luật để quyết định là chưa phù hợp.
[2.6.]. Từ những phân tích trên, có đủ căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Trần Đình T, bà Tạ Thị N. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 12/2025/DS-ST ngày 03/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Thái Nguyên theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3.]. Trong vụ án này phía bị đơn không có yêu cầu phản tố về việc đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng 24m² đất đang tranh chấp cho mình, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét, giải quyết và giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất như hiện nay. Ông T và bà N căn cứ vào các quy định pháp luật về đất đai để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
[4.]. Về án phí dân sự và chi phí tố tụng:
[4.1.]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Q không được chấp nhận nên ông Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0005855 ngày 31/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (nay là Thi hành án, tỉnh Thái Nguyên).
[4.2.]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Trần Đình T và bà Tạ Thị N được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4.3.]. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Đình T và bà Tạ Thị N tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng dân sự là 8.000.000 đồng. Ông T và bà N có nghĩa vụ thanh toán trả cho ông Phan Văn Q số tiền là 8.000.000 đồng này (do ông Q đã tạm ứng chi phí tố tụng và quyết toán xong).
[5.]. Quan điểm tranh luận của những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Thái Nguyên là có căn cứ pháp luật, được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận
---------------------------------------
CÔNG TY LUẬT SALA
Hotline: 0904968165
BẢO VỆ NGƯỜI THỨ 3 NGAY TÌNH
Bảo vệ người thứ ba ngay tình là chế định có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự. Bài viết phân tích cơ sở lý luận của giao dịch thế chấp và người thứ ba ngay tình, chỉ ra những hệ quả phát sinh trong thực tiễn xét xử và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện hướng dẫn áp dụng pháp luật.
Đặt vấn đề
Bảo vệ người thứ ba ngay tình theo Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS năm 2015) là cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch dân sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng đối với giao dịch thế chấp tài sản, đặc biệt là khi có sự tham gia của Ngân hàng, quy định này đang được hiểu và vận dụng chưa thống nhất. Trong đó, Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử (sau đây gọi là Công văn số 02) đưa ra hướng dẫn theo hướng gắn trạng thái ngay tình với nghĩa vụ thẩm định tài sản của Ngân hàng. Còn Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính (sau đây gọi là Công văn số 64) thì mở rộng cách hiểu về “giao dịch dân sự khác”, làm phát sinh tranh luận về việc có thể coi thế chấp là giao dịch chuyển giao tài sản. Những cách hiểu này đặt ra vấn đề về sự phù hợp với tinh thần của BLDS năm 2015 và ảnh hưởng đến tính thống nhất trong áp dụng pháp luật. Trong bối cảnh đó, bài viết tập trung phân tích cơ sở pháp lý của việc bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch thế chấp, đánh giá tính hợp lý của hướng dẫn tại Công văn số 02 và Công văn số 64, từ đó chỉ ra những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.
1. Quy định của pháp luật về người thứ ba ngay tình
Pháp luật hiện tại chưa có một khái niệm cụ thể thế nào là người thứ ba ngay tình. Tuy nhiên, quy định về ngay tình đã được đề cập đến từ BLDS năm 1995 và năm 2005, đến BLDS năm 2015 thì quy định về người thứ ba ngay tình đã có sự điều chỉnh nhất định. Ở những BLDS trước, khái niệm “chiếm hữu ngay tình” tiếp cận dưới góc độ chủ thể chiếm hữu “không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật”[1]. Ngay tình được hiểu là lòng ngay thẳng, thực thà, tình thế rõ ràng. Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học cũng giải thích rằng người thứ ba ngay tình khi tham gia GDDS vô hiệu là người được chuyển giao tài sản thông qua GDDS mà họ không biết, không buộc phải biết tài sản đó do người chuyển giao cho họ thu được từ một giao dịch vô hiệu.[2] Tới BLDS năm 2015 quy định về chiếm hữu ngay tình đã được hiểu là “việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu” (Điều 180 BLDS năm 2015). Vậy, có thể hiểu rằng người thứ ba ngay tình trong GDDS vô hiệu là người chiếm hữu ngay tình đối với tài sản là đối tượng trong GDDS vô hiệu trước đó, người thứ ba ngay tình có được tài sản này thông qua một GDDS mà có căn cứ để tin rằng giao dịch được xác lập tuân theo các quy định của pháp luật, không thể biết đối tượng giao dịch là tài sản do chủ sở hữu trước đó có được thông qua một giao dịch vô hiệu.[3]
Cụ thể hơn, khoản 2 Điều 133 BLDS năm 2015 về bảo vệ người thứ ba ngay tình trong GDDS vô hiệu quy định rằng, trường hợp GDDS vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một GDDS khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu. Quy định này cho thấy sự chuyển dịch của pháp luật dân sự từ việc xác định người thứ ba ngay tình theo tiêu chí “không biết, không buộc phải biết” sang việc bảo vệ người thứ ba ngay tình dựa trên sự tin tưởng vào trạng thái pháp lý của tài sản đã được đăng ký, qua đó mở rộng phạm vi bảo vệ đối với người thứ ba ngay tình. Sự thay đổi trong quy định của BLDS năm 2015 đã phù hợp hơn với không chỉ riêng với các điều luật khác trong cùng bộ luật mà còn tương thích cả với các quy định về đăng ký động sản, bất động sản trong các bộ luật khác. Điều này góp phần bảo đảm sự công bằng, hợp lý và ổn định trong quan hệ GDDS.
2. Vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật
Khác với cách tiếp cận mang tính khái quát của BLDS năm 2015, Công văn 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử, khi hướng dẫn giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm, đã cụ thể hóa việc xác định người thứ ba ngay tình theo hướng xem xét nghĩa vụ thẩm định tài sản của Ngân hàng. Theo đó, Ngân hàng chỉ được coi là người thứ ba ngay tình khi đã thực hiện việc kiểm tra, xác minh tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm trước khi xác lập giao dịch thế chấp. BLDS năm 2015 đã thừa nhận tính hợp pháp của các giao dịch này nếu như tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một GDDS khác cho người thứ ba ngay tình. Giao dịch chỉ bị coi là vô hiệu nếu đó là tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc Công văn số 02 mặc nhiên coi không thẩm định tình trạng pháp lý của tài sản là dấu hiệu của không ngay tình đã dẫn đến cách hiểu vừa thiếu cơ sở pháp lý, vừa vô tình chuyển hướng rủi ro từ phía chủ thể có lỗi trong giao dịch vô hiệu sang phía người thứ ba.
Về mặt lý luận, việc đồng nhất xác định tình trạng ngay tình với nghĩa vụ thẩm định, xác minh là không phù hợp với chế định bảo vệ người thứ ba ngay tình trong pháp luật dân sự. Đối với tình huống trong Công văn, Ngân hàng hoàn toàn có căn cứ để tin tưởng và dựa vào đó để xác lập giao dịch, đó là việc giao dịch trước đó đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Còn về trách nhiệm chứng minh sự ngay tình của người thứ ba, ta có thể thấy cả BLDS Pháp tại Điều 2268 và BLDS Việt Nam năm 2015 tại Điều 184 đều quy định rằng, người chiếm hữu ngay tình nếu họ có căn cứ để tin rằng mình có quyền hợp pháp với tài sản đó. Trường hợp có tranh chấp, bên muốn phủ nhận trang thái ngay tình phải đưa ra bằng chứng để chứng minh[4]. Theo đó, trong trường hợp này, Ngân hàng không có nghĩa vụ phải chứng minh tình trạng ngay tình của mình, mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về chủ thể yêu cầu phủ nhận tư cách ngay tình của người thứ ba.
Từ phân tích trên, tác giả cho rằng, trong quan hệ này, Ngân hàng là chủ thể chiếm hữu tài sản bảo đảm trên cơ sở giao dịch hợp pháp và có căn cứ để tin rằng tài sản thế chấp có đủ điều kiện pháp lý bởi giao dịch trước đó đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do đó về nguyên tắc phải được suy đoán là người thứ ba ngay tình. Việc yêu cầu Ngân hàng chứng minh nghĩa vụ thẩm định tài sản, xét ở góc độ bảo vệ người thứ ba ngay tình, có thể làm giảm đi định hướng trong cơ chế mà pháp luật dân sự đề ra. Vì vậy, việc áp dụng Công văn số 02 cần được xem xét theo hướng tôn trọng nội hàm của Điều 133 BLDS năm 2015 tránh tạo thêm các điều kiện hạn chế quyền của người thứ ba ngay tình.
Tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính, có ý nghĩa tích cực trong việc bảo vệ người thứ ba ngay tình về mặt thực tiễn áp dụng, song về mặt lý luận, quan điểm đặt ra trong Công văn có thể vẫn còn những vấn đề cần được làm rõ. Cụ thể, cách tiếp cận của Công văn chưa thực sự thống nhất với cách hiểu của BLDS năm 2015 về “chuyển giao bằng một GDDS khác”, đặc biệt là trong việc làm rõ mối quan hệ giữa giao dịch thế chấp với cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình theo Điều 133 BLDS năm 2015. Qua nghiên cứu tác giả cho rằng, cách lý giải của Công văn số 64 đối với khái niệm trên trong quan hệ thế chấp vẫn còn những điểm chưa thật sự phù hợp về mặt lý luận với BLDS năm 2015.
Công văn số 64 hướng dẫn cụm từ “chuyển giao bằng một GDDS khác” tại khoản 2 Điều 133 của BLDS năm 2015 phải được áp dụng theo nghĩa rộng. Có nghĩa là: Không chỉ có những giao dịch nhằm chuyển giao QSH như: Hợp đồng mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn nhà ở; chuyển nhượng, chuyển đổi, góp vốn bằng quyền sử dụng đất... mà cả những giao dịch nhằm chuyển giao những quyền về sở hữu đối với tài sản hoặc quyền về sử dụng đối với thửa đất. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 317 BLDS năm 2015 quy định về thế chấp tài sản là việc bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên nhận thế chấp. Với quy định này, biện pháp thế chấp chứa đựng ba đặc điểm như sau: (i) tài sản thuộc sở hữu của bên thế chấp; (ii) bên thế chấp không chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp mà thực tế thường chuyển giao các loại giấy tờ cho nhau để ràng buộc trách nhiệm; (iii) mục đích nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ giữa các bên.[5]
Bản chất pháp lý của thế chấp là biện pháp bảo đảm đặc thù của hợp đồng dân sự, khác biệt với các biện pháp bảo đảm khác. Cụ thể, bên nhận thế chấp giữ các giấy tờ liên quan đến tài sản trong suốt thời hạn hợp đồng và chỉ có quyền xử lý tài sản khi nghĩa vụ được bảo đảm không được thực hiện đúng hạn theo quy định; còn bên thế chấp giữ tài sản thế chấp, sử dụng và hưởng lợi từ tài sản thế chấp, đầu tư để tăng giá trị tài sản thế chấp, cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp hay thậm chí là được bán, trao đổi, tặng cho tài sản khác (không phải hàng hóa kinh doanh) nếu được sự đồng ý của bên nhận thế chấp hoặc theo quy định của luật,... (Điều 321 BLDS năm 2015). Qua đây có thể thấy, trong giao dịch thế chấp thì QSH tài sản vẫn nằm trong tay của bên thế chấp (tức chủ sở hữu).
Ngoài ra, khi xem xét kỹ Điều 317 BLDS năm 2015 ta có thể thấy, quan hệ thế chấp chỉ phát sinh khi tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là tài sản thuộc QSH hợp pháp của bên thế chấp. Khi một bên không là chủ sở hữu của tài sản mà họ vẫn ký hợp đồng thế chấp thì bản chất giao dịch này đã mâu thuẫn ngay từ điều kiện áp dụng của Điều 317. Yêu cầu chủ thể trong thế chấp tài sản không phải là yêu cầu mang tính hình thức, mà là điều kiện của GDDS. Điều này được nhiều học giả ghi nhận, trong đó khẳng định rằng bên thế chấp là chủ thể có QSH hợp pháp tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.[6] Việc này không chỉ thể hiện tính pháp lý chặt chẽ trong BLDS mà còn nhất quán với các nguyên tắc về QSH và các điều kiện có hiệu lực của GDDS quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015. Vì vậy, giao dịch thế chấp với Ngân hàng lúc này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 133 BLDS năm 2015 để xác định Ngân hàng là người thứ ba ngay tình. Tuy nhiên xét trên thực tế để bảo vệ quyền lợi tối đa của người thứ ba ngay tình thì cần có những sửa đổi pháp luật cần thiết được kiến nghị cụ thể ở Chương 3.
Từ những phân tích ở trên, tác giả đồng tình với quan điểm bảo vệ người thứ ba ngay tình của Công văn số 64, tuy nhiên nhóm cho rằng giao dịch thế chấp tài sản không tồn tại việc chuyển giao QSH tài sản. Bởi trong giao dịch thế chấp thực chất chỉ chuyển giao các loại giấy tờ liên quan đến tài sản (nếu có thỏa thuận) để ràng buộc trách nhiệm của bên thế chấp với bên nhận thế chấp. Khả năng xử lý tài sản thế chấp khi xảy ra vi phạm nghĩa vụ không làm thay đổi thực tế rằng tại thời điểm giao kết hợp đồng thế chấp, không có sự chuyển giao tài sản nào diễn ra. Do đó, không có cơ sở để áp dụng cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình theo Điều 133 BLDS năm 2015 đối với bên thế chấp trên lập luận coi thế chấp là giao dịch chuyển giao tài sản có điều kiện. Vì vậy, cách hiểu của Công văn số 64 nếu được duy trì sẽ làm mâu thuẫn về mặt lý luận với BLDS năm 2015 và phát sinh nhiều vướng mắc trong thực tiễn xét xử.
Thực tiễn xét xử cho thấy việc xác định Ngân hàng có phải là người thứ ba ngay tình trong giao dịch thế chấp vẫn còn nhiều cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất, đặc biệt trong các trường hợp tài sản bảo đảm có nguồn gốc pháp lý phức tạp. Bản án số 940/2025/DS-PT ngày 20/8/2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp của Tòa án nhân dân thành phố H đã phản ánh rõ những vướng mắc này. Vụ án phát sinh từ tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và bà Trà Thị Thúy H, trong đó tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đã được bà H chuyển nhượng bằng giấy viết tay cho nhiều người trước thời điểm thế chấp. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu đòi nợ của Ngân hàng nhưng tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu và không chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản, với lập luận Ngân hàng không phải là người thứ ba ngay tình do không thẩm định thực tế tài sản trên đất theo hướng dẫn tại Công văn số 02. Ngân hàng kháng cáo cho rằng đã căn cứ vào giấy chứng nhận và cam kết của bên thế chấp khi xác lập giao dịch, đồng thời các hợp đồng chuyển nhượng trước đó đều không đủ điều kiện pháp lý. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định việc áp dụng Công văn số 02 trong trường hợp này là chưa phù hợp, do các giao dịch chuyển nhượng trước đều chưa được công chứng, đăng ký và người nhận chuyển nhượng chưa được xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm còn vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi không đo đạc, xác định ranh giới phần đất có thể phát mãi và chưa đưa đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng. Trên cơ sở đó, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo, hủy một phần bản án sơ thẩm liên quan đến hợp đồng thế chấp và yêu cầu phát mãi tài sản để giải quyết lại theo đúng quy định pháp luật.
Thứ nhất, khó khăn chủ yếu nằm ở sự thiếu thống nhất trong việc đánh giá yếu tố ngay tình của Ngân hàng. Khoản 2 Điều 133 BLDS năm 2015 bảo vệ người thứ ba ngay tình với điều kiện chủ thể không biết và không thể biết về việc giao dịch trước đó vô hiệu. Một số Tòa án sơ thẩm vẫn dựa vào mức độ thẩm định thực tế tài sản để đánh giá tình trạng ngay tình của Ngân hàng, coi việc không kiểm tra tình trạng pháp lý của tài sản là căn cứ loại trừ tư cách người thứ ba ngay tình. Cách áp dụng này dẫn đến việc phủ nhận giá trị pháp lý của đăng ký quyền sử dụng đất và làm phát sinh tiêu chí ngoài luật định khi đánh giá ngay tình.
Thứ hai, sự lúng túng trong việc áp dụng Điều 133 BLDS năm 2015 đối với giao dịch thế chấp. Thực tiễn cho vẫn còn quan điểm coi thế chấp là GDDS khác theo hướng dẫn của Công văn số 64, từ đó áp dụng cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình cho Ngân hàng. Tuy nhiên về mặt lý luận, cách hiểu này phản ánh chưa đúng bản chất của thế chấp là biện pháp bảo đảm không làm phát sinh sự chuyển giao quyền đối với tài sản tại thời điểm xác lập giao dịch, dẫn đến việc áp dụng Điều 133 thiếu chính xác.
Thứ ba, về hệ quả tố tụng phát sinh từ việc áp dụng sai chế định người thứ ba ngay tình. Việc xác định không đúng tư cách pháp lý của Ngân hàng kéo theo những sai sót trong quá trình giải quyết vụ án như không xác định rõ phạm vi tài sản có thể xử lý hay chưa đưa đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng. Điều này làm giảm hiệu quả giải quyết tranh chấp và gia tăng nguy cơ bị hủy, sửa án ở cấp phúc thẩm.
3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về người thứ ba ngay tình
3.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015
3.1.1. Làm rõ nội hàm "chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác"
Trên cơ sở nghiên cứu một số lý luận của các nhà nghiên cứu cũng như thực tiễn áp dụng, tác giả có kiến nghị về sửa đổi quy định của pháp luật như sau: Cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình cần được quy định triệt để hơn, trong đó, cần xác định "chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác" trong quy định của Điều 133 BLDS năm 2015. Trên thực tế, "chuyển giao tài sản" thường được hiểu là việc dịch chuyển quyền đối với tài sản thông qua các giao dịch dân sự. Trong khi đó, bản chất của giao dịch thế chấp về mặt lý luận không phải là hành vi chuyển giao tài sản, bởi tài sản thế chấp vẫn do bên thế chấp nắm giữ, điều này cũng được quy định rõ ràng tại khoản 2 Điều 317 BLDS năm 2015. Nếu xét về hậu quả pháp lý cuối cùng, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, tài sản thế chấp sẽ được giao cho bên nhận thế chấp để xử lý. Tuy nhiên, việc xử lý tài sản này không làm thay đổi bản chất của giao dịch thế chấp là một biện pháp bảo đảm không có sự chuyển giao, mà chỉ nên coi là hệ quả pháp lý, với mục đích khắc phục phần nghĩa vụ bị vi phạm.
Từ cách tiếp cận này, để tránh các cách hiểu và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn, khoản 2 Điều 133 BLDS năm 2015 nên được cân nhắc sửa đổi, bổ sung theo hướng khẳng định rõ rằng: trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sau đó "trở thành đối tượng của một giao dịch dân sự" với người thứ ba ngay tình, người này căn cứ vào việc đăng ký đó để xác lập và thực hiện giao dịch thì giao dịch với người thứ ba ngay tình không bị vô hiệu.
3.1.2. Làm rõ căn cứ xác định tình trạng ngay tình của người thứ ba
Bên cạnh vấn đề về phạm vi "chuyển giao tài sản", một trong những hạn chế nổi bật khác của BLDS năm 2015 là chưa quy định rõ ràng và cụ thể các căn cứ để xác định tình trạng ngay tình của người thứ ba. Hiện nay, khái niệm "ngay tình" chủ yếu được hiểu theo nghĩa phủ định, tức là người thứ ba không biết và không thể biết về sự vô hiệu của giao dịch dân sự gốc. Tuy nhiên, pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể về tiêu chí nào được dùng để đánh giá một người có thể biết hay không, dẫn đến tình trạng tùy nghi trong nhận định và áp dụng của các cơ quan tài phán.
Về mặt lý luận, tình trạng ngay tình cần được đánh giá dựa trên các tiêu chí khách quan, phản ánh mức độ thẩm tra, xác minh mà một người bình thường, hành xử cẩn trọng trong hoàn cảnh tương tự được kỳ vọng phải thực hiện trước khi xác lập giao dịch. Theo đó, người thứ ba được coi là ngay tình khi tài sản đã được đăng ký theo trình tự pháp luật quy định và người này đã căn cứ vào thông tin đăng ký để thực hiện giao dịch; khi không có dấu hiệu rõ ràng, công khai nào về khả năng vô hiệu của giao dịch trước đó mà một người có hiểu biết trung bình cần nhận thức được; hoặc khi người thứ ba đã thực hiện các bước xác minh hợp lý trong khuôn khổ khả năng tiếp cận thông tin thực tế của mình[8].
Do đó, kiến nghị được đặt ra là BLDS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng liệt kê một số căn cứ mang tính định hướng để xác định tình trạng ngay tình, hoặc giao Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật.
3.1.3. Xác định hợp lý trách nhiệm chứng minh trong việc xác lập tình trạng ngay tình
Liên quan mật thiết đến vấn đề căn cứ xác định tình trạng ngay tình là câu hỏi về phân bổ trách nhiệm chứng minh: bên nào có nghĩa vụ chứng minh người thứ ba có hoặc không có ngay tình trong một vụ tranh chấp cụ thể? Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, bởi việc phân bổ trách nhiệm chứng minh không hợp lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, đặc biệt là người thứ ba trong giao dịch.
Theo nguyên tắc chung của tố tụng dân sự, người nào có yêu cầu thì người đó có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của mình. Tuy nhiên, đối với tình trạng ngay tình thì việc áp dụng cứng nhắc nguyên tắc này sẽ đặt ra những thách thức lớn về mặt thực tiễn chứng minh. Vì vậy, cần xây dựng một cơ chế suy đoán ngay tình có điều kiện: người thứ ba được suy đoán là ngay tình khi đã tham chiếu vào hệ thống đăng ký công khai của Nhà nước và không có căn cứ rõ ràng nào để nghi ngờ tính hợp lệ của tài sản. Khi đó, trách nhiệm chứng minh sẽ chuyển sang phía người yêu cầu tuyên bố giao dịch với người thứ ba vô hiệu, tức là bên muốn bác bỏ tình trạng ngay tình phải chứng minh rằng người thứ ba biết hoặc buộc phải biết về khiếm khuyết của giao dịch.
Cơ chế này vừa phù hợp với nguyên tắc bảo vệ niềm tin hợp pháp trong giao dịch dân sự, vừa tạo động lực cho các bên chủ động minh bạch thông tin, góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống đăng ký tài sản. Theo đó, kiến nghị được đặt ra là cần bổ sung quy định về suy đoán ngay tình và cơ chế phân bổ nghĩa vụ chứng minh tương ứng trong BLDS năm 2015 hoặc trong văn bản hướng dẫn thi hành.
3.2. Kiến nghị hoàn thiện hướng dẫn áp dụng pháp luật
3.2.1. Sửa đổi, thống nhất nội dung các công văn hướng dẫn
Thực tiễn áp dụng pháp luật về người thứ ba ngay tình cho thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất trong xét xử xuất phát từ tình trạng các công văn hướng dẫn còn mâu thuẫn, chồng chéo, hoặc chưa phù hợp với tinh thần của BLDS năm 2015. Một số công văn được ban hành trong bối cảnh pháp lý cũ, không được cập nhật kịp thời sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực.
Trước thực trạng đó, cần thiết phải tiến hành rà soát toàn diện các công văn hướng dẫn liên quan đến người thứ ba ngay tình, xác định rõ những nội dung còn hiệu lực, những nội dung cần sửa đổi và những nội dung cần bãi bỏ. Việc rà soát này cần được thực hiện có hệ thống, gắn liền với các quy định cụ thể của BLDS năm 2015, đồng thời tham chiếu thực tiễn xét xử để đánh giá mức độ phù hợp của từng hướng dẫn. Sau khi rà soát, cần kịp thời ban hành văn bản thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ trong toàn bộ hệ thống hướng dẫn áp dụng pháp luật.
3.2.2. Ban hành văn bản giải thích pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn
Bên cạnh việc sửa đổi các công văn hướng dẫn hiện hành, một giải pháp căn cơ hơn là Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành nghị quyết hướng dẫn. Việc nâng cao giá trị pháp lý của văn bản hướng dẫn mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực, nâng cao hiệu lực, hiệu quả nhằm áp dụng thống nhất trong toàn ngành.
3.2.3. Phát triển án lệ về người thứ ba ngay tình
Một hướng tiếp cận quan trọng khác trong việc hoàn thiện hướng dẫn áp dụng pháp luật là đẩy mạnh phát triển án lệ liên quan đến người thứ ba ngay tình. Kể từ khi Tòa án nhân dân tối cao chính thức công nhận và áp dụng án lệ theo Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP, hệ thống án lệ của Việt Nam đã từng bước được xây dựng và phát triển. Tuy nhiên, số lượng án lệ liên quan đến người thứ ba ngay tình vẫn còn hạn chế, chưa bao quát được đầy đủ các tình huống phức tạp phát sinh trong thực tiễn.
Do đó, cần tăng cường tuyển chọn, công bố và hướng dẫn áp dụng án lệ liên quan đến người thứ ba ngay tình, đặc biệt tập trung vào các tình huống về giao dịch thế chấp, tài sản chưa được đăng ký, và tranh chấp giữa người thứ ba ngay tình với chủ sở hữu ban đầu nhằm tận dụng ưu điểm phản ánh trực tiếp thực tiễn xét xử, mang tính cụ thể và có khả năng điều chỉnh linh hoạt hơn so với quy phạm thành văn.
3.3. Kiến nghị hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện
3.3.1. Nâng cao chất lượng đội ngũ áp dụng pháp luật
Hiệu quả của bất kỳ quy định pháp luật nào, dù được soạn thảo hoàn thiện đến đâu, cũng phụ thuộc rất lớn vào năng lực và bản lĩnh của đội ngũ áp dụng pháp luật. Đối với lĩnh vực người thứ ba ngay tình, đây là một vấn đề pháp lý có độ phức tạp cao, đòi hỏi người áp dụng không chỉ nắm vững quy định thực định mà còn phải có khả năng tư duy lý luận, phân tích bối cảnh và cân nhắc hài hòa các lợi ích đối lập trong từng vụ việc cụ thể.
Do đó, cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp của đội ngũ Thẩm phán không chỉ trong nghiệp vụ xét xử, mà còn gắn liền với việc xây dựng các văn bản hướng dẫn vừa phù hợp với thực tiễn vừa đảm bảo thống nhất với lý luận pháp lý. Bên cạnh đó, cần tổ chức thường xuyên các hội thảo chuyên đề, tọa đàm trao đổi nghiệp vụ về các vấn đề pháp lý còn gây tranh cãi, trong đó có vấn đề bảo vệ người thứ ba ngay tình, nhằm tạo diễn đàn để các Thẩm phán cùng nhau thảo luận, thống nhất quan điểm và nâng cao chất lượng xét xử.
3.3.2. Tăng cường công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản hướng dẫn
Cần xây dựng cơ chế rà soát định kỳ, có hệ thống đối với toàn bộ văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giao dịch dân sự, trong đó xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì, quy trình thực hiện và tiêu chí đánh giá tính phù hợp của từng văn bản. Kết quả rà soát cần được công bố công khai và kịp thời chuyển hóa thành các văn bản thay thế, sửa đổi hoặc bãi bỏ theo đúng thẩm quyền
3.3.3. Ứng dụng công nghệ trong rà soát và cảnh báo xung đột pháp luật
Trước thực trạng hệ thống văn bản pháp luật và hướng dẫn áp dụng ngày càng đồ sộ và phức tạp đó, ứng dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), vào công tác quản lý và vận hành hệ thống văn bản pháp luật là một giải pháp có tính khả thi cao và cần được ưu tiên thúc đẩy. Cụ thể, có thể kể đến một số hướng ứng dụng thiết thực như: áp dụng AI vào công tác rà soát, chọn lọc, loại bỏ hoặc thay thế những văn bản không còn phù hợp hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; xây dựng hệ thống cảnh báo tự động khi phát hiện có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản mới ban hành và các văn bản hiện hành; hoặc triển khai nền tảng tra cứu pháp luật thông minh, có khả năng tổng hợp, đối chiếu và cập nhật hiệu lực của văn bản theo thời gian thực, phục vụ nhu cầu của cả cơ quan áp dụng pháp luật lẫn người dân và doanh nghiệp. Sự kết hợp giữa giải pháp công nghệ và nỗ lực cải cách thể chế sẽ tạo nền tảng vững chắc để xây dựng một hệ thống hướng dẫn pháp luật mạch lạc, nhất quán và có khả năng thích ứng linh hoạt trước những biến đổi của thực tiễn.
Kết luận
Bảo vệ người thứ ba ngay tình là chế định có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự. Mặc dù BLDS năm 2015 đã có những bước tiến đáng ghi nhận, thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều vướng mắc xuất phát từ sự thiếu rõ ràng trong quy định lập pháp lẫn sự chưa tương thích của các công văn hướng dẫn.
Để khắc phục, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ hoàn thiện quy định của BLDS năm 2015, xây dựng hệ thống hướng dẫn áp dụng thống nhất, đến nâng cao năng lực đội ngũ Thẩm phán và ứng dụng công nghệ trong quản lý văn bản pháp luật. Đây là nền tảng cần thiết để cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình thực sự phát huy hiệu quả, góp phần củng cố niềm tin và sự ổn định trong quan hệ giao dịch dân sự.
NGUYỄN ĐẶNG HẢI LINH (Trường Đại học Luật Hà Nội)
106 Nguyễn An Ninh, Tân An, Ninh Kiều
Can Tho
84
Be the first to know and let us send you an email when Công ty Luật Sala posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.