nhadathaiphong24h.vn

nhadathaiphong24h.vn Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from nhadathaiphong24h.vn, Consulting Agency, Haiphong.

02/04/2019

Do không có nhu cầu sử dụng, cần bán lô đất tại Khu Lũng Đông 5.

- Diện tích: 64,8m2 (ngang 4,05m)
- Đường trước mặt rộng 3 m
- Vị trí đắc địa: gần chợ Lũng Đông, đường World Bank... kinh doanh buôn bán tốt.

- Giá 13tr/m

Liên hệ: 0343931644

30/01/2018

Chính chủ cần bàn mảnh đất ở khu tái định cư Nam Hải 3.
DTMB: 60 m2, hướng tây nam. Đường rộng 8m, vỉa hè 3m, cách đường WorldBank 100m. Khu vực đang phát triển, nhà xây dựng nhiều.
Giá: 15triệu/m - Liên hệ A Lĩnh sđt 01643931644

29/07/2016

Cấp lại sổ đỏ bị mất
Dịch vụ tư vấn cấp lại sổ đỏ bị mất
Khi bị mất sổ đỏ khách hàng sẽ không thể tiến hàng mua bán hay chuyển nhượng , tặng hay cho thuê...Với kinh nghiệm lâu năm trong tư vấn nhà đất như tư vấn thủ tục làm sổ đỏ, tư vấn thủ tục cấp lại sổ đỏ mới , tách sổ đỏ ..... nhadathaiphong24h.vn tư vấn khách hàng để trong thời gian ngắn nhất khách hàng sẽ được cấp lại chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Quy trình nhadathaiphong24h.vn tư vấn cấp lại sổ đỏ bị mất như sau :
1 .Trình tự thủ tục :
Bước 1: Người có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đến UBND cấp xã, phường nơi có đất nộp đơn khai báo về việc mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cam kết trước pháp luật về việc khai báo của mình.
Bước 2: Sau khi nhận đơn khai báo cán bộ địa chính cấp xã phường có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:
- Xác định số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của giấy chứng nhận bị mất;
- Chuyển đơn khai báo lên phòng tài nguyên và môi trường thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Niêm yết thông báo việc mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại trụ sở UBND cấp xã nơi có đất.
2 . Hồ sơ xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) bao gồm:
- Đơn đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận (theo mẫu);
- Giấy tờ xác nhận việc mất Giấy chứng nhận của công an cấp xã nơi mất giấy;
- Giấy tờ chứng minh đã đăng tin mất Giấy chứng nhận trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương (trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hoả hoạn) đối với tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Trường hợp hộ gia đình và cá nhân thì chỉ cần có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã.
3 .Quy trình cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nhadathaiphong24h.vn:
- Soạn thảo hồ sơ hợp lệ theo quy định của pháp luật;
- Xử lý hồ sơ tại cơ quan nhà nước có thẩm khi có yêu cầu;
- Thay mặt khách hàng nộp hồ sơ và nhận kết quả tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

04/07/2016

Nhu cầu bán nhà,20m2 tầng 5 tập thể An Dương (mặt đường Tôn Đức Thắng,đối diện Trường Nguyễn Bá Ngọc),có 1 wc,1 nhà tắm riêng,có khu nấu ăn phía sau cửa kính,có điều hoà
Nếu để lại điều hoà & làm thủ tục giấy tờ chuyển nhượng: 140 triệu đồng
Llac trực tiếp cô giáo Mầm non: 0168 6563632 (Quyên)

20/06/2016

Hotline: 0936 94 94 90.
Thủ tục làm sổ đỏ tại Hải Phòng
Nhadathaiphong24h.vn hướng dẫn trình tự các thủ tục liên quan tới làm sổ đỏ tại các huyện: sang tên sổ đỏ, tách sổ đỏ,cấp mới sổ đỏ, đính chính thông tin sổ đỏ ( sai tên, hiện trạng...):
Quận Hồng Bàng, Quận Lê Chân, Quận Ngô Quyền, Quận Kiến An, Quận Hải An, Quận Đồ Sơn, Huyện An Lão, Huyện Kiến Thuỵ, Huyện Thủy Nguyên, Huyện An Dương Huyện Tiên Lãng, Huyện Vĩnh Bảo, Huyện Cát Hải, Huyện Bạch Long Vĩ , Quận Dương Kinh
Cách thức thực hiện: Hồ sơ của bước trước làm cơ sở để thực hiện các bước sau và được bổ sung theo từng bước như sau:
Bước 1: Các bên đến cơ quan công chứng lập hợp đồng chuyển nhượng, thừa kế, cho tặng. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập hợp đồng, các bên phải kê khai lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, nếu quá thời hạn trên sẽ bị phạt theo quy định của nhà nước.
Bước 2: Kê khai nghĩa vụ tài chính (tại UBND cấp huyện nơi có nhà, đất)
Hồ sơ thực hiện việc sang tên sổ đỏ gồm:
- Tờ khai lệ phí trước bạ (02 bản do bên mua ký)
- Tờ khai thuế thu nhập cá nhân (02 bản do bên bán ký. Riêng trường hợp cho tặng 04 bản).
- Hợp đồng công chứng đã lập (01 bản chính)
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (01 bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền)
- CMND + Sổ hộ khẩu của cả bên mua và bên bán (01 bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền)
- Đối với trường hợp cho tặng, thừa kế phải có giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân của người cho và người nhận để được miễn thuế thu nhập cá nhân.
- Thời hạn có thông báo nộp thuế: 10 ngày Sau khi có thông báo thì người nộp thuế nộp tiền vào ngân sách nhà nước.
+ Thuế sang tên sổ đỏ: ( trước đây gọi là Thuế chuyển dịch quyền sử dụng đất gồm):
- Thuế thu nhập cá nhân: 2 %
- Thuế trước bạ: 0,5 %
Bước 3: Kê khai hồ sơ sang tên (tại UBND quận/huyện nơi có nhà, đất)
Thành phần hồ sơ gồm:
- Đơn đề nghị đăng ký biến động (do bên bán ký); Trong trường hợp có thoả thuận trong hợp đồng về việc bên mua thực hiện thủ tục hành chính thì bên mua có thể ký thay.
- Hợp đồng chuyển nhượng; hợp đồng tặng cho; hoặc văn bản thỏa thuận phân chia di sản; văn bản khai nhận di sản;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất (bản gốc)
- Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước (bản gốc)
- Bản sao CMND + Sổ hộ khẩu của bên nhận chuyển nhượng, thừa kế, cho tặng
- Thời hạn sang tên: Theo quy định của pháp luật
+ Lệ phí sang tên sổ đỏ gồm:
- Lệ phí địa chính: 15.000 đồng/trường hợp;
- Lệ phí thẩm định: Mức thu tính bằng 0,15% giá trị (sang tên) chuyển nhượng (Tối thiểu 100.000 đồng đến tối đa không quá 5.000.000 đồng/trường hợp);
Bước 4: Nộp đủ lệ phí theo quy định và nhận sổ đỏ.

25/04/2016

Cần bán 177m đất, 2 mặt tiền. Đường 6m. Tại khu trung cư Hoàng mai, An Dương, Hải Phòng. Giá 8tr/m. Mọi chi tiết liên hệ Minh sdt 0906156160.

31/03/2016

Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân thành phố Hải Phòng

1. Trình tự thực hiện:

- Người có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp nộp đơn tại Ủy ban nhân dân thành phố.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố giao trách nhiệm cơ quan tham mưu giải quyết.

- Cơ quan tham mưu có nhiệm vụ thẩm tra, xác minh vụ việc, tổ chức hòa giải giữa các bên tranh chấp, tổ chức cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai (nếu cần thiết) và hoàn chỉnh hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ban hành quyết định giải quyết tranh chấp hoặc quyết định công nhận hòa giải thành, gửi cho các bên tranh chấp, các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan.

2. Cách thức thực hiện:

- Người có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp nộp đơn tại Ủy ban nhân dân thành phố.

3. Thành phần, số lượng hồ sơ:

- Đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai;

- Biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã; biên bản làm việc với các bên tranh chấp và người có liên quan; biên bản kiểm tra hiện trạng đất tranh chấp; biên bản cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp hòa giải không thành; biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết tranh chấp;

- Trích lục bản đồ, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ liên quan đến diện tích đất tranh chấp và các tài liệu làm chứng cứ, chứng minh trong quá trình giải quyết tranh chấp;

- Báo cáo đề xuất và dự thảo quyết định giải quyết tranh chấp hoặc dự thảo quyết định công nhận hòa giải thành.

4. Thời hạn giải quyết:

- Thời hạn kiểm tra hồ sơ: Trường hợp nhận hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì trong thời gian tối đa 03 ngày, cơ quan tiếp nhận, xử lý hồ sơ phải thông báo và hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định.

- Thời hạn giải quyết không quá 60 ngày; đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn thì thời gian thực hiện được tăng thêm 15 ngày.

5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.

6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

- Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Ủy ban nhân dân thành phố.

- Cơ quan phối hợp: Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, các phòng ban của Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Tài nguyên và Môi trường

7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính:

Quyết định giải quyết tranh chấp hoặc quyết định công nhận hòa giải thành.

8. Lệ phí : không quy định.

9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: không quy định

10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính: Không quy định

11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

- Luật số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013, có hiệu lực ngày 01/7/2014;

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, có hiệu lực ngày 01/7/2014.

31/03/2016

Thủ tục thẩm định nhu cầu sử dụng đất để xem xét giao đất, cho thuê đất; thẩm định điều kiện giao đất, thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.
1. Trình tự thực hiện:
a) Người có nhu cầu nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường;
b) Cán bộ tiếp nhận kiểm tra hồ sơ, nếu đủ thành phần và đúng giá trị pháp lý của từng văn bản theo quy định thì ghi đầy đủ thông tin vào Sổ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả, đồng thời trao Phiếu tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả cho người nộp hồ sơ; luân chuyển hồ sơ đến Phòng Quản lý Tài nguyên đất để giải quyết; trường hợp hồ sơ chưa đủ, chưa đúng thì cán bộ tiếp nhận hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung hoặc trả lại hồ sơ.
Trong thời gian 3 ngày làm việc, cán bộ thụ lý hồ sơ phải nghiên cứu hồ sơ và kiểm tra thực địa nếu phát hiện hồ sơ không đủ điều kiện phải làm văn bản chuyển đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để trả lại cho người nộp hồ sơ.
c) Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện các công việc sau:
- Tổ chức cuộc họp thẩm định hoặc làm văn bản trình Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường ký gửi xin ý kiến bằng văn bản của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc tổ chức kiểm tra thực địa, thời gian thực hiện 5 ngày làm việc.
- Lập văn bản thẩm định trình Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường ký gửi đến người nộp hồ sơ, thời gian thực hiện 5 ngày làm việc.
Đối với dự án đầu tư đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư hoặc Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư thì không phải thực hiện thủ tục thẩm định nhu cầu sử dụng đất.
2. Cách thức thực hiện:
Trực tiếp tại Bộ phận và trả kết quả thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường.
3. Thành phần, số lượng hồ sơ:
3.1. Đối với dự án phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc phải cấp giấy chứng nhận đầu tư.
a. Thành phần:
(1) Đơn xin giao đất/cho thuê đất/cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo mẫu số 01 tại Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bản chính);
(2) Phương án đầu tư hoặc văn bản chấp thuận đầu tư kèm theo bản thuyết minh dự án đầu tư ( nếu có) (Bản chính).
Trường hợp xin giao đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh thì không phải nộp kèm bản sao bản thuyết minh dự án đầu tư nhưng phải nộp bản sao quyết định đầu tư xây dựng công trình quốc phòng, an ninh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gồm các nội dung liên quan đến việc sử dụng đất hoặc quyết định phê duyệt quy hoạch vị trí đóng quân của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
Trường hợp dự án sử dụng đất cho hoạt động khoáng sản thì phải có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
(3) Sơ đồ mặt bằng vị trí hoặc Trích lục địa chính thửa đất hoặc trích đo địa chính thửa đất (Bản chính)
(4) Văn bản thỏa thuận quy hoạch của Sở Xây dựng (Bản chính).
b. Số lượng: 01 bộ.
3.2. Đối với dự án không phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; dự án không phải cấp giấy chứng nhận đầu tư; trường hợp không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình.
a. Thành phần:
(1) Đơn xin giao đất/cho thuê đất/cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo mẫu số 01 tại Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bản chính);
(2) Sơ đồ mặt bằng vị trí hoặc Trích lục địa chính thửa đất hoặc trích đo địa chính thửa đất (Bản chính);
(3)- Bản thuyết minh dự án đầu tư (đối với dự án không phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, dự án không phải cấp giấy chứng nhận đầu tư) (Bản chính);
(4) Báo cáo kinh tế - kỹ thuật (đối với trường hợp không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình) (Bản chính);
(5) Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình tôn giáo đối với trường hợp xin giao đất cho cơ sở tôn giáo (Bản chính);
(6) Văn bản thỏa thuận quy hoạch của Sở Xây dựng.
b. Số lượng: 02 bộ.
4. Thời hạn giải quyết:
- 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (không kể thời gian xin ý kiến tham vấn).
- Trường hợp giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất: Thẩm định nhu cầu sử dụng đất xin giao đất, cho thuê đất; thẩm định điều kiện giao đất, thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư: Thời điểm thẩm định được thực hiện trước khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư, thẩm định dự án đầu tư, lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật hoặc chấp thuận đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng.
- Trường hợp giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất: Thời điểm thẩm định được thực hiện trước khi tổ chức phiên đấu giá quyền sử dụng đất
- Trường hợp phải chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng để thực hiện dự án đầu tư thì thủ tục này chỉ thực hiện sau khi Thủ tướng Chính phủ có văn bản chấp thuận chuyển mục đích sử dụng đất hoặc Hội đồng nhân dân thành phố có Nghị quyết về việc chuyển mục đích sử dụng đất.
5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính:
Tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.
6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:
- Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Sở Tài nguyên và Môi trường.
- Đơn vị trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính: Phòng Quản lý Tài nguyên đất.
- Cơ quan phối hợp: Sở Xây dựng, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Cục thuế thành phố, Uỷ ban nhân dân cấp huyện có liên quan.
7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính:
- Văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất.
- Văn bản thẩm định điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để cho thuê hoặc để bán kết hợp cho thuê theo quy định của pháp luật về nhà ở; dự án đầu tư kinh doanh bất động sản gắn với quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản; dự án sản xuất, kinh doanh không sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước.
8. Lệ phí: Không .
9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai:
(1) Đơn xin giao đất/cho thuê đất/cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo mẫu số 01 tại Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Mẫu đơn tp04.docx
10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính: Không
11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:
- Luật Đất đai năm 2013.
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai.
- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất.

07/03/2016

Cuộc cải cách sở hữu ngập ngừng
Phạm Duy Nghĩa *

PGS. TS Phạm Duy Nghĩa
Rào cản ngăn nước ta phát triển dưới mức tiềm năng chính là những cuộc cải cách sở hữu ngập ngừng, không triệt để.

Ba mươi năm Đổi mới, nhiều người giàu lên vì đất. Tôi tưởng mang cả ba-lô tiền mặt đi săn đất Phú Quốc, hiện tượng ấy chỉ có ở Việt Nam. Tôi đã lầm. Từ cổ chí kim, hàng ngàn năm nay, của cải để dành của các dân tộc tuyệt đại đa số là nhà đất. Tệ hơn nữa, thời nào của cải cũng chảy vào chỗ trũng, những nhóm nhà giàu thiểu số thời nào cũng kiểm soát hầu hết sự thịnh vượng của các quốc gia 1.

Vì bất công, nên cách mạng xảy ra liên miên, tâm điểm của những cuộc cách mạng ấy thường liên quan tới phân phối lại sở hữu. Sau giải phóng miền Nam, cũng là khi nền kinh tế kế hoạch được ấn định trên phạm vi toàn quốc, về bản chất chúng ta đã xóa đi chế độ sở hữu cũ, lập ra sở hữu mới, gọi là sở hữu toàn dân, mọi nguồn lực kinh tế đều do nhà nước kiểm soát và chỉ huy. Vượt rào, khoán chui cho tới Đổi mới, cuộc cải cách kinh tế từ 1986 cho đến nay về bản chất là trả lại quyền định đoạt sở hữu, nhất là quyền tài sản về nhà đất cho các hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp.

Tuyên bố những nguồn tài nguyên này thuộc “sở hữu toàn dân” là đúng về đạo lý, về chính trị. Song khái niệm này không thể dùng được về mặt pháp lý. Không thể có ông chủ toàn dân.
-------------
Của bạn, của tôi, của thành phố, của đất nước chúng ta, sở hữu phải rõ ràng thì quốc gia mới khơi thông thêm được tiềm năng phát triển. Vì lẽ ấy, tránh tụt hậu, không còn cách nào khác phải thúc đẩy cải cách sở hữu.

Nhờ ơn cuộc cải cách đó, hàng triệu người dân Việt Nam đã đổi đời. Từ 1986 đến nay, tính trung bình, GDP của nước ta tăng trưởng bình quân là 6.5%, một tốc độ tăng trưởng đáng tự hào trên thế giới (từ sau Thế chiến II cho đến nay chỉ có 13 quốc gia đạt mức độ tăng trưởng liên tục trên 7% một năm trong vòng 30 năm liên tiếp). Đó là mặt lấp lánh của tấm huy chương.

Mặt khác, trời thì xa nước Trung Hoa thì gần. Cũng trong 30 năm đó, Trung Quốc tăng trưởng liên tục bình quân 10% một năm. Thua kém Trung Quốc trong 30 năm qua đã đẩy Việt Nam vào thế yếu dần. Nếu như những năm 70 của thế kỷ trước, thu nhập bình quân của người Việt và người Trung Quốc là ngang nhau trong một thời gian rất dài, thì 30 năm sau, thu nhập bình quân của người Trung Quốc đã cao hơn 2,5 lần người Việt Nam. Càng yếu, càng lệ thuộc về kinh tế, càng khó giữ biển đảo, càng khó giữ chủ quyền.

Như vậy, đằng sau mặt lấp lánh tấm huy chương còn có mặt sần sùi, đó là đáng lẽ Việt Nam có cơ hội phát triển nhanh và tốt hơn nữa. Nhiều cơ hội đó đã bị bỏ lỡ, chúng ta đã phát triển dưới mức tiềm năng. 10 năm sau gia nhập WTO, Trung Hoa trở thành cường quốc dẫn đầu về kinh tế, viết tiếp sự phát triển thần kỳ của các dân tộc Đông Bắc Á. Tưởng là đồng văn và ít nhiều đồng chủng, song tôi lại cũng lầm, quốc gia chúng ta dường như rất khó sánh vai với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Chúng ta đang tụt lại cùng Philippines và nhiều quốc gia kém phát triển phía Nam.

Rào cản ngăn nước ta phát triển dưới mức tiềm năng chính là những cuộc cải cách sở hữu ngập ngừng, không triệt để. Là di sản của tổ tiên để lại, đất đai và các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiển nhiên cần phải được hưởng dụng có lợi cho cả dân tộc, cho thế hệ này và cho các thế hệ mai sau. Như vậy, tuyên bố những nguồn tài nguyên này thuộc “sở hữu toàn dân” là đúng về đạo lý, về chính trị. Song khái niệm này không thể dùng được về mặt pháp lý. Không thể có ông chủ toàn dân.

Của bạn, của tôi, của thành phố hoặc đất nước chúng ta, mọi thửa đất phải có chủ rõ ràng. Chủ càng rõ trách nhiệm càng cao. Của đau con xót, vì lợi riêng, mọi phần tử trong xã hội sẽ ganh đua cạnh tranh, sự cạnh tranh ấy tạo nên sức mạnh bất diệt làm sinh sôi của cải, tạo ra phúc lợi chung. Vì lẽ đó, minh định sở hữu sẽ khơi thông tiềm năng phát triển.

Nói thì dễ, làm mới khó. Thúc đẩy cải cách sở hữu hiện nay rất khó. Sợ mất sở hữu công là mất công cụ kiểm soát nền kinh tế, chúng ta né tránh thảo luận tới tận cùng và chấp nhận hiện trạng nửa vời: từng chủ sử dụng đất giữ một số quyền, nhà nước giữ một số quyền, trong đó quan trọng nhất là quyền thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng và đền bù giá đất theo giá nhà nước xác định. Tất nhiên, ẩn sau nhà nước là vô số bàn tay của cá nhân và tổ chức chia nhau giữ từng quyền quản lý. Hóa ra, từ của chung có thể phát sinh lợi riêng, sở hữu toàn dân đã trở thành tấm bình phong giúp các nhóm có thế lực kiểm soát hầu hết các nguồn lực của quốc gia chúng ta, từ đất đai, rừng biển, các con sông và vốn đầu tư trong doanh nghiệp nhà nước, trong các dự án công. Các nhóm đó đã trở nên giàu sụ và hùng mạnh, họ hiển nhiên không hề muốn thay đổi chế độ sở hữu hiện hành.

Các nhà kinh tế cảnh báo nước ta sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Về thể chế pháp luật, cũng có thể dự báo nước ta có nguy cơ bị kẹt giữa những thể chế mang tính khai thác, bóc lột; của cải của quốc gia ngày càng dồn vào tay những nhóm lợi ích, tổ chức. “Ở đây muôn sự của chung, ai khéo vẫy vùng thì được của riêng”, đó là điều chúng ta không hề muốn. Của bạn, của tôi, của thành phố, của đất nước chúng ta, sở hữu phải rõ ràng thì quốc gia mới khơi thông thêm được tiềm năng phát triển. Vì lẽ ấy, tránh tụt hậu, không còn cách nào khác phải thúc đẩy cải cách sở hữu.
---------
* PGS TS Trưởng Khoa Luật UEH, [email protected]
1 Tham khảo cuốn sách “Chủ nghĩa tư bản trong thế kỷ XXI” gây tranh luận dữ dội trong giới kinh tế học trong hai năm qua của Thomas Piketty (2013), Le Capital au XXIe siècle; Capital in the Twenty-First Century, (2014).

27/02/2016

THỰC TIỄN THI HÀNH BỘ LUẬT DÂN SỰ: VỢ CHỒNG LẬP DI CHÚC CHUNG, NHIỀU RẮC RỐI
Posted on 28/05/2012 by Civillawinfor
HOÀNG YẾN
Việc vợ chồng cùng lập di chúc chung ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, xung quanh chuyện này, thực tế đã nảy sinh nhiều vướng mắc pháp lý chưa có hướng gỡ…
BLDS cho phép vợ chồng được lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất kỳ lúc nào nếu được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.
Hiện nay, ngày càng có nhiều cặp vợ chồng lập di chúc chung nhằm bảo toàn tài sản để lại cho con cháu nhưng thực tiễn đã nảy sinh khá nhiều vướng mắc pháp lý.
Không thể định đoạt tài sản của mình
Theo nhiều chuyên gia, vướng mắc lớn nhất là việc khi vợ hoặc chồng chết trước thì người còn lại cũng như người thừa kế theo di chúc không thể định đoạt di sản như bán, thế chấp… Có việc này bởi di chúc chung của vợ chồng chủ yếu định đoạt nhà, đất. Nhà, đất là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, chưa phân định phần nào là sở hữu của mỗi người nên khi một người chết trước thì không thể công chứng việc mua bán phần tài sản thuộc sở hữu của người còn sống được. Mặt khác, theo luật di chúc chung chỉ có hiệu lực sau khi cả vợ chồng cùng chết hoặc người sau cùng chết. Do vậy, khi một trong hai người vẫn còn sống thì chưa thể làm thủ tục khai nhận thừa kế hoặc thỏa thuận phân chia di sản.
Chẳng hạn trường hợp của ông VTH ở TP Tân An (Long An). Thương người con gái độc thân, vợ chồng ông lập di chúc để lại căn nhà đang ở cho chị. Năm 2006, vợ ông H. bệnh nặng qua đời. Hai năm sau, ông H. bị tai biến, nằm liệt tại chỗ. Việc chữa trị, chăm sóc ông rất tốn kém trong khi chỉ một tay người con gái bươn chải. Nợ nần chồng chất, ông H. và con bàn nhau bán nhà trả nợ, còn lại mua một căn nhà nhỏ để cha con sống và có dư một ít tiền làm vốn cho người con mua bán sinh nhai.
Sau đó, người con đem hồ sơ nhà đất và tờ di chúc ra phòng công chứng khai nhận di sản thì bị từ chối. Theo phòng công chứng, đây là di chúc chung của vợ chồng nên khi ông H. còn sống thì di chúc chưa có hiệu lực. Ông H. muốn thay đổi nội dung di chúc nhằm có thể tự bán phần một nửa căn nhà của ông nên nhờ cậy một luật sư tư vấn miễn phí. Tuy nhiên, luật sư cho biết một nửa căn nhà của ông gắn liền với phần tài sản của người vợ đã mất, mặt khác theo luật, khi sửa đổi di chúc chung của vợ chồng thì không được làm thay đổi bản chất nội dung của di chúc. Nghĩa là dù ông H. có định đoạt lại nửa căn nhà phần ông thế nào thì cũng không thể thay đổi, hủy bỏ việc cho người con gái căn nhà đó được.
Bán nhà không được, thế chấp vay tiền ngân hàng cũng không xong, cha con ông H. đành ngậm ngùi chấp nhận hoàn cảnh thiếu trước hụt sau, túng quẫn từng ngày.
Một vụ khác là trường hợp ông TVT ở TP Biên Hòa (Đồng Nai), vốn có nhà bạc tỉ nhưng cuối đời phải sống trong cảnh khổ. Vợ chồng ông lập di chúc chung để lại căn nhà duy nhất trị giá khoảng 2 tỉ đồng cho hai con. Sau khi vợ mất, hai con bỏ rơi ông, không đứa nào chăm sóc vì chê cha khó tính, hay bẳn gắt. Ông tuổi già sức yếu (hơn 90 tuổi), muốn bán căn nhà của mình để có tiền trang trải tuổi già nhưng không được. Ông khởi kiện yêu cầu tòa hủy bỏ di chúc cũng bị tòa từ chối.
Ảnh hưởng tới thời hiệu khởi kiện thừa kế
Ngoài vướng mắc trên, theo một thẩm phán Tòa Dân sự TAND TP.HCM, quy định hiện hành về di chúc chung của vợ chồng còn nhiều bất cập khác. Bởi lẽ thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của di chúc chung vợ chồng không đơn giản chỉ là căn cứ để phân chia di sản theo di chúc chung mà còn ảnh hưởng tới thời hiệu khởi kiện, quyền thừa kế cũng như việc định giá di sản của người chết…
Vị thẩm phán này phân tích: Thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Như vậy hết 10 năm mà một trong hai người lập di chúc vẫn còn sống thì thời hiệu khởi kiện xin chia thừa kế đối với phần di sản của người chết trước cũng không còn. Giả sử nếu di chúc chung đó không hợp pháp mà những người thừa kế không biết để khởi kiện kịp thời thì đến khi người lập di chúc sau cùng chết, thời hiệu khởi kiện không còn thì quyền lợi của người thừa kế coi như bị bỏ lửng…
Ngoài ra, quy định về hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng sẽ dẫn đến tình trạng khó phân chia di sản. Nếu người còn lại sống thọ quá lâu, tài sản chung có thể không còn nguyên vẹn hay tăng, giảm giá trị thì việc xác định giá trị tài sản chung hết sức phức tạp, tạo ra nhiều tranh chấp khác khó giải quyết…
Còn trẻ cũng lập di chúc chung
Dù còn đang ở tuổi làm việc, sức khỏe đang tốt nhưng vợ chồng chị NTL và anh LVM ở quận 2 (TP.HCM) vẫn cùng nhau lập một bản di chúc chung để lại toàn bộ tài sản gồm nhà, đất và một số cổ phiếu của một ngân hàng cho hai con.
Chị L. tâm sự ban đầu chồng chị phản đối vì cho rằng “vợ chồng còn trẻ chứ có phải già cả sắp chết đâu mà phải lập di chúc”. Nhưng chị cứ nhất quyết phải lập di chúc để bảo toàn khối tài sản mà vợ chồng chị đã chung sức vất vả tạo lập từ thuở hàn vi cho các con. Chị phân trần: “Nếu lỡ một ngày ổng có thay lòng đổi dạ thì tài sản chung cũng không bị lọt vào tay kẻ khác”.
Chưa dự liệu các tình huống phát sinh
Nhà làm luật chưa dự liệu các khả năng khác khiến di chúc phải bị sửa đổi, bổ sung khi không thể tìm được sự đồng thuận của vợ chồng. Luật chỉ quy định nếu muốn hủy, sửa đổi di chúc chung thì vợ chồng nếu còn sống phải đồng thuận. Trong khi thực tế luôn có các trường hợp vợ, chồng mâu thuẫn, ly thân, ly hôn hay một bên vợ hoặc chồng còn sống nhưng đã bị tuyên bố mất tích, bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự… khiến cho họ không còn thể hiện được ý chí cá nhân được nữa.
Luật sư LÊ QUANG Y, Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai
Hạn chế quyền định đoạt
Khoản 2 Điều 664 BLDS quy định khi vợ chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của bên còn lại. Với quy định này đã làm hạn chế quyền sở hữu của một bên vì khi muốn thay đổi phải được sự đồng ý của bên kia, nếu một bên không đồng ý việc thay đổi thì bên còn lại không thể thay đổi nội dung di chúc.
Cạnh đó, Điều 668 BLDS quy định di chúc chung vợ chồng chỉ có hiệu lực khi cả hai người cùng chết hoặc người sau cùng chết. Quy định này đã mâu thuẫn với khoản 5 Điều 667 BLDS về việc vợ hay chồng có quyền được định đoạt phần tài sản của mình thông qua việc sửa đổi di chúc. Hơn nữa, quy định này còn dẫn đến tình trạng những người đồng thừa kế không thể tranh chấp phần tài sản thừa kế nếu một trong hai người lập di chúc còn sống. Như vậy, nếu ngành tòa án thụ lý vụ án tranh chấp thừa kế đối với di chúc chung vợ chồng khi một người vợ hoặc chồng còn sống là sai luật.
Luật sư PHẠM TẤT THẮNG, Đoàn Luật sư TP.HCM
S

27/02/2016

THỦ TỤC, GIẤY TỜ CỦA BÊN TẶNG CHO, HOẶC BÊN BÁN NHÀ ĐẤT
1.
Giấy chứng nhận quyền SD đất (Sổ đỏ) hoặc Giấy CN QSH nhà ở và QSD đất (Sổ hồng).
2.
- Chứng minh thư/ Hộ chiếu của những người có quyền sử dụng đất hoặc tham gia ký hợp đồng;
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Biên bản họp sáng lập viên hoặc Biên bản họp Hội đồng quản trị (đối với tổ chức);
- Sổ Hộ khẩu gia đình của bên tặng cho hoặc bên bán .
3.
Giấy tờ chứng minh quan hệ vợ, chồng như Giấy đăng ký kết hôn hoặc Hộ khẩu có ghi quan hệ vợ, chồng, nếu trong trường hợp Sổ đỏ hoặc Sổ hồng không ghi rõ quan hệ vợ, chồng.
4.
Các giấy tờ xác định quan hệ sở hữu về tài sản như: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; Quyết định hoặc bản án ly hôn; văn bản thừa kế; hợp đồng tặng cho; văn bản thoả thuận về tài sản chung, riêng hoặc các giấy tờ liên quan khác…(nếu có).
5.
Trường hợp 2 bên tặng, cho là cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em, con dâu, con rể thì phải có thêm giấy tờ để chứng minh quan hệ như: giấy khai sinh, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.
II.
THỦ TỤC, GIẤY TỜ CỦA BÊN NHẬN TẶNG CHO HOẶC BÊN MUA NHÀ ĐẤT
1.
Chứng minh thư/ Hộ chiếu
2.
Sổ Hộ khẩu thường trú (đối với cá nhân)
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Biên bản họp sáng lập viên hoặc Biên bản họp Hội đồng quản trị về việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cử người tham gia ký văn bản công chứng (đối với tổ chức)

Address

Haiphong

Telephone

0936949490

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when nhadathaiphong24h.vn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share