Viện Phát triển Doanh nghiệp INBUS

Viện Phát triển Doanh nghiệp INBUS Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Viện Phát triển Doanh nghiệp INBUS, Business consultant, Hanoi.

CHỈ SỐ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP CHI TIẾT NĂM 2022 (BCTC 2021)- NGÀNH BÁN BUÔN VÀ BÁN LẺ
27/06/2023

CHỈ SỐ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP CHI TIẾT NĂM 2022 (BCTC 2021)- NGÀNH BÁN BUÔN VÀ BÁN LẺ

ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH TRẠNG PHÂN BỐ CỦA CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH TRONG TỪNG NGÀNH NĂM 2022
26/06/2023

ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH TRẠNG PHÂN BỐ CỦA CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH TRONG TỪNG NGÀNH NĂM 2022

NHỮNG BIẾN ĐỘNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CÁC NGÀNH NĂM 2022Thông tin sử dụng cho việc phân tích trong là c...
16/06/2023

NHỮNG BIẾN ĐỘNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CÁC NGÀNH NĂM 2022
Thông tin sử dụng cho việc phân tích trong là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp năm 2021. Vì thế, để đảm bảo tính xác đáng, báo cáo tài chính doanh nghiệp được sử dụng là các báo cáo đã được kiểm toán. Để đảm bảo kết quả phân tích là tổng hợp, số lượng doanh nghiệp được chọn là các doanh nghiệp niêm yết trên các sàn chứng khoán HOSE, UPCOM, HNX. Năm 2021, số lượng doanh nghiệp được khảo sát là 1.475. Năm 2022, số lượng doanh nghiệp được xử lý tăng với năm trước 1.503 doanh nghiệp. Các doanh nghiệp được xem xét cũng khác nhau. Ngoài việc được phân chia thành các ngành để đánh giá và so sánh, các doanh nghiệp còn được phân chia thành các nhóm theo 2 tiêu chí sau: (i) giá cổ phiếu ≥10.000 đ/cp, và (ii) tỷ suất lợi nhuận trên cổ phần EPS ≥15%. Xét theo hai tiêu chí này, có thể phân chia các doanh nghiệp thành 3 nhóm: (1) nhóm các doanh nghiệp đạt cả hai tiêu chí, (2) nhóm các doanh nghiệp chỉ đạt tiêu chí về giá, và (3) nhóm các doanh nghiệp không đạt tiêu chí về giá. Theo cách phân loại trên, số doanh nghiệp được phân tích năm 2021 thuộc nhóm: (1) 492 doanh nghiệp, nhóm (2) 424 doanh nghiệp, và nhóm (3) 559 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp được phân tích năm 2022 thuộc các nhóm: (1) 570 doanh nghiệp, (2) 651 doanh nghiệp, và (3) 282 doanh nghiệp (BẢNG TH.1.)
Số doanh nghiệp thuộc các nhóm tiêu chí năm 2022 cũng có sự biến động so với 2021. Số lượng doanh nghiệp đạt 2 tiêu chí tăng ở một số ngành như Bán buôn và bán lẻ; Hoạt động tài chiinhs, ngân hàng và bảo hiểm; Khai khoáng; Sản xuất phân phối điện; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; Sản xuất kim loại; khi lại giảm ở đa số các ngành như Hoạt động hành chiinhs, dịch vụ hỗ trợ; Thông tin truyền thông; Sản xuất đồ uống; Sản xuất máy móc, phương tiện vận tải. Tương tự, số lượng doanh nghiệp đạt tiêu chí về giá tăng ở đa số các ngành như Bán buôn và bán lẻ; Hoạt động kinh doanh bất động sản; Vận tải; Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng…, và giảm ở ít ngành như ngành Sản xuất và phân phối điện; Dệt và sản xuất trang phục. Số lượng doanh nghiệp không đạt tiêu chí giá giảm ở tất cả 26 ngành.
Trong từng ngành cũng thể hiện tính trạng “chuyển nhóm” của các doanh nghiệp. Sự chuyển nhóm được coi là tích cực nếu các doanh nghiệp chuyển từ nhóm đạt ít tiêu chí sang nhóm đạt nhiều tiêu chí; và ngược lại, sẽ bị coi là tiêu cực nếu chuyển từ nhóm đạt nhiều tiêu chí sang nhóm đạt ít tiêu chí. Từ kết quả tổng hợp trong bảng ‘tình hình thay đổi về số lượng doanh nghiệp đạt tiêu chí xét theo ngành’, (BẢNG TH.2 và BẢNG TH.3), có các ngành Bán buôn và bán lẻ; Hoạt động kinh doanh bất động sản; Khai khoáng; Kho bãi; Sản xuất, chế biến thực phẩm… thể hiện xu thế chuyển nhóm tích cực; trong khi đó chiều hướng thay đổi tiêu cực chỉ ở 2 ngành Cung cáp nước và Hoạt dộng hành chính, dịch vụ hỗ trợ. Ở hầu hết các ngành đều có doanh nghiệp nằm trong cột “không có tên”, đó là các doanh nghiệp có kết quả hoạt động trong năm giảm sút nên không đạt được bất kỳ chỉ tiêu nào, vì thế đã “biến mất” khỏi danh sách các doanh nghiệp được xét.
Sự thay đổi về thứ hạng của doanh nghiệp cũng là dấu hiệu cho biết sự tiến bộ trong hoạt động của các doanh nghiệp và của một ngành qua một năm. Sự thay đổi thứ hạng doanh nghiệp trong nhóm và trong tổng số các doanh nghiệp được nghiên cứu có thể là do sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới. Nếu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, vị trí thứ hạng của doanh nghiệp sẽ được cải thiện (tăng bậc). Ngược lại, nếu doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả so với năm trước hay so với doanh nghiệp khác trong ngành hay trong nhóm thậm chí các doanh nghiệp mới xuất hiện, thứ hạng của doanh nghiệp sẽ hạ xuống (giảm bậc). So sánh số liệu giữa hai năm 2022 và 2021 cho thấy theo chiều hướng thay đổi là “tích cực”, có nghĩa là thứ hạng của những doanh nghiệp được nghiên cứu trong năm 2021 và 2022 có xu thế tăng bậc. (BẢNG TH.4.) Xét theo thứ hạng doanh nghiệp trong tổng số doanh nghiệp, ngành Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ; Thông tin truyền thông; Xây dựng nhà các loại; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại có số lượng doanh nghiệp tăng bậc nhiều hơn số doanh nghiệp giảm bậc. Điều đó chứng tỏ hoặc các doanh nghiệp đang hoạt động đã cải thiện được tình trạng hoạt động so với năm trước và/hoặc so với các doanh nghiệp được xét, kể cả các doanh nghiệp mới xuất hiện. Nhiều ngành phải chứng kiến tình trạng có doanh nghiệp giảm bậc. Những ngành có nhiều doanh nghiệp giảm bậc gồm Cung cấp nước; Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; Sản xuất dồ uống. Ở một số ngành, tuy có doanh nghiệp giảm bậc, số lượng này được cân đối bởi số doanh nghiệp tăng bậc. Đó là những ngành như Bán buôn bán lẻ; Dệt và sản xuất trang phục; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy.
Tình trạng “sức khoẻ” của doanh nghiệp được phản ánh qua những thay đổi về kết quả hoạt động của doanh nghiệp khi so sánh giữa 2 năm 2021-2022, thể hiện qua hiệu số giữa các chỉ số tài chính của doanh nghiệp năm 2022 so với 2021 (các Bảng A.3.). Tình trạng “sức khoẻ lý tưởng” của doanh nghiệp, xét từ góc độ các chỉ tiêu tài chính, được phản ánh qua hệ thống các ‘mức chuẩn tối ưu’ của các chỉ tiêu. Một sự thay đổi về chỉ số của một doanh nghiệp tiến gần đến ‘mức chuẩn tối ưu’ của chỉ tiêu đó hơn sẽ được ghi nhận là có “Tốt lên”; Ngược lại, nếu có sự thay đổi theo hướng rời xa ‘mức chuẩn tối ưu’, tình trạng sẽ được ghi nhận là “Yếu đi”. Số chỉ tiêu được xét gồm 21 chỉ tiêu cụ thể thuộc 6 nhóm chỉ tiêu tài chính. Để có thể so sánh được, doanh nghiệp được xét là những doanh nghiệp nằm trong số các doanh nghiệp đạt tiêu chí xem xét cả trong năm 2021 và 2022.
Trong số 1.388 doanh nghiệp năm 2021 được xem xét, năm 2022 số lượng này tăng lên 1.427 doanh nghiệp. Số lượng các doanh nghiệp còn “trụ” được trong nhóm các đối tượng xem xét theo ngành được liệt kê trong Bảng TH.5. Có thể nhận thấy, mức thay đổi trung bình giao động quanh mức 50% (50% “Tốt lên”, 48% “Yếu đi”). Điều đó cho thấy, tình trạng tài chính doanh nghiệp của nền kinh tế, qua các doanh nghiệp được xét, về cơ bản không thay đổi nhiều trong năm 2022 so với 2021. Tuy nhiên, xét đến phạm vi ngành, mức độ cải thiện (“Tốt lên”) ở các chỉ số tài chính lại rất khác nhau và giao động từ 36% đến 67%.
Theo mức độ cải thiện, có thể chia thành 4 nhóm: (1) các ngành có doanh nghiệp được ghi nhận mức cải thiện các chỉ tiêu tài chính đạt trên 60%; (2) các ngành có doanh nghiệp được ghi nhận mức cải thiện các chỉ tiêu tài chính đạt từ 50 đến 60%; (3) các ngành có doanh nghiệp được ghi nhận mức cải thiện các chỉ tiêu tài chính đạt dưới 50%. Nhóm ngành thứ nhất gồm 2 ngành với tổng số 94 doanh nghiệp thuộc các ngành Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và Sản xuất và phân phối điẹn. Nhóm ngành thứ hai gồm 11 ngành với tổng số 714 doanh nghiệp thuộc các ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; Cung cấp nước; Khai khoáng; Dệt và sản xuất trang phục; Kho bãi; Sản xuất hóa chất, hóa dược và dược liệu; Bán buôn và bán lẻ; Hoạt động kinh doanh bất động sản; Hoạt động xây dựng chuyên dụng; Sản xuất kim loại; Sản xuất máy móc, phương tiện vận tải. Nhóm ngành thứ ba gồm 13 ngành với tổng số 581 doanh nghiệp thuộc các ngành Sản xuất giấy; Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng; Sản xuất chế biến thực phẩm; Sản xuất thiết bị điện, điện tử; Chế biến gỗ; Vận tải; Xây dựng nhà các loại; Thông tin truyền thông; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại; Sản xuất đồ uống; Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ; Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ; Dịch vụ lưu trú và ăn uống. Số liệu cụ thể được trình bày trong Bảng TH.5. Sự thay đổi về các chỉ tiêu xét cho từng doanh nghiệp trong từng ngành được thể hiện trong các Bảng A.3.
Tình trạng cải thiện ở các doanh nghiệp trong từng ngành cũng khác nhau. Trong số những doanh nghiệp được xét – doanh nghiệp có số liệu có thể so sánh của hai năm 2021 và 2022 – có 15 ngành (gồm 907 doanh nghiệp được xét, chiếm 67%) có từ 50% số doanh nghiệp trở lên có số lượng chỉ số được cải thiện đạt trên 50%. Cao nhất là Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm với 88% doanh nghiệp có số chỉ tiêu tốt lên >50%. Ngược lại, ở một số ngành, không ghi nhận có sự cải thiện nào đáng kể (Sản xuất đồ uống; Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ; Xây dựng nhà các loại; Dịch vụ lưu trú và ăn uống; Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ,

16/06/2023

Doanh nghiệp là khu vực kinh tế quan trọng đối với mọi quốc gia. Đóng góp to lớn của doanh nghiệp đối với nền kinh tế không chỉ thể hiện bằng việc cung cấp hàng hóa, tạo việc làm, nguồn ngân sách mà nó còn là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Chính vì vậy, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển là rất cần thiết để phát triển kinh tế quốc dân, mang lại phồn vinh cho xã hội, xây dựng quốc gia vững mạnh.
Sau hơn hai thập kỷ chuyển hướng nền kinh tế sang định hướng kinh tế thị trường, doanh nghiệp Việt Nam đã phát triển rất mạnh mẽ, nhất là khu vực tư nhân, và có những đóng góp rất to lớn trong sự phát triển của kinh tế Việt Nam. Hàng loạt chính sách đã được Chính phủ ban hành để trợ giúp doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau phát triển và đã phát huy tác dụng tích cực trong việc giúp doanh nghiệp Việt Nam vượt qua khó khăn, phát triển và đóng góp vào sự phát triển ổn định của nền kinh tế. Thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam vẫn không ngừng tăng lên.
Vai trò của doanh nghiệp đối với sự phát triển kinh tế của đất nước ngày càng được coi trọng. Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) (Ngày 03/06/2018) đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, khẳng định rõ “Phát triển kinh tế tư nhân là một phương sách quan trọng để huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển và giải phóng sức sản xuất”. Đổng thời với việc thực hiện Nghị quyết 35/NQ-CP về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2022 của chính phủ, mục tiêu “Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” nêu trong Nghị quyết 10-NQ/TW không còn là chủ trương mà trở thành nhiệm vụ cấp bách cần thực hiện.
Tiến trình các Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do (AFTA) và Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đang mở ra những cơ hội to lớn cũng như đang đặt ra những thách thức mới buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải tiếp tục đổi mới, nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế và hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Trợ giúp doanh nghiệp Việt Nam phát triển cũng cần có những bước tiến mới.
Để trợ giúp phát triển doanh nghiệp một cách thiết thực và hữu hiệu, Viện Nghiên cứu và Phát triển Doanh nghiệp (INBUS) thuộc Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (HUBT) phối hợp với Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp (DĐDN) thuộc Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA), Hội các Nhà Quản trị Doanh nghiệp Việt Nam (VACD) cùng phối hợp triển khai “Chương trình Đánh giá Năng lực Hoạt động Doanh nghiệp”, được tiến hành hằng năm với mục đích thiết lập một khuôn khổ phân tích năng lực doanh nghiệp phục vụ việc xây dựng các biện pháp, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực hoạt động theo hướng hội nhập. Chương trình đánh giá năng lực doanh nghiệp gồm 02 nội dung: (i) đánh giá năng lực tài chính doanh nghiệp qua các chỉ số kết quả hoạt động tài chính (KRI - Key Result Indicator), và đánh giá năng lực hoạt động của doanh nghiệp qua các chỉ số năng lực hoạt động (KPI - Key Performance Indicator).
Khởi động từ năm 2013, cuốn báo cáo hàng năm đã được hoàn thiện rất nhiều và chính thức ra mắt bạn đọc như một món quà đối với các nhà nghiên cứu, phân tích kinh tế, các nhà quản lý các cấp, các nhà đầu tư và doanh nghiệp tự đánh giá hoạt động của mình.
BAN THƯ KÝ CHƯƠNG TRÌNH

Address

Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Viện Phát triển Doanh nghiệp INBUS posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share