PTA

PTA PTA - Tạo Lập Giá Trị

ĐIỂM SÁNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP THÁNG 9/2020Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong tháng 9/2020 giảm...
16/10/2020

ĐIỂM SÁNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP THÁNG 9/2020

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong tháng 9/2020 giảm 12,6% so với cùng kỳ năm 2019, chủ yếu do ảnh hưởng của dịch Covid-19, bên cạnh đó tháng Chín năm nay trùng với tháng Bảy âm lịch, người dân có tâm lý hạn chế khởi sự kinh doanh. Tuy nhiên quy mô vốn đăng ký tiếp tục được các doanh nghiệp mở rộng, tăng 45% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt 133,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước; quy mô vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 14,4 tỷ đồng, tăng 14,4%. Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy doanh nghiệp lạc quan về tình hình sản xuất kinh doanh trong quý IV/2020 với 81% doanh nghiệp đánh giá sẽ ổn định và tốt hơn.

Tình hình đăng ký doanh nghiệp[13]
Trong tháng 9/2020, cả nước có 10,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 203,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 83 nghìn lao động, giảm 23,1% về số doanh nghiệp, giảm 29,6% về vốn đăng ký và giảm 13,8% về số lao động so với tháng trước[14]. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 19,7 tỷ đồng, giảm 8,5% so với tháng trước và tăng 65,9% so với cùng kỳ năm 2019. Trong tháng, cả nước còn có 4.568 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 4,3% so với tháng trước và tăng 89,3% so với cùng kỳ năm 2019; có 3.269 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 5,4% và tăng 114,9%; có 4.097 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 19,7% và tăng 50,8%; có 1.736 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 22,6% và tăng 14,1%; có 6.933 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 77% và tăng 59,1%.

Tính chung 9 tháng, cả nước có gần 99 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.428,5 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 777,9 nghìn lao động, giảm 3,2% về số doanh nghiệp, tăng 10,7% về vốn đăng ký và giảm 16,3% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng đạt 14,4 tỷ đồng, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 2.173,4 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 29,5 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 9 tháng năm nay là 3.601,9 nghìn tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 34,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 25,5% so với 9 tháng năm 2019, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 9 tháng lên 133,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Trung bình mỗi tháng có 14,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Theo khu vực kinh tế, 9 tháng năm nay có 1.949 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước; gần 29,7 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 7,8%; 67,3 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, giảm 8,1%. Trong tất cả các ngành, lĩnh vực hoạt động, bên cạnh ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản còn có ngành sản xuất phân phối điện, nước, gas có số doanh nghiệp thành lập mới đạt 4.241 doanh nghiệp, tăng 269,4% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành còn lại đều có số doanh nghiệp thành lập mới giảm: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 32,5 nghìn doanh nghiệp, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm 2019; xây dựng 12,6 nghìn doanh nghiệp, giảm 2,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo 12,4 nghìn doanh nghiệp, giảm 4,5%; khoa học công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác 8.527 doanh nghiệp, giảm 1,1%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác 4.987 doanh nghiệp, giảm 17%; kinh doanh bất động sản 4.841 doanh nghiệp, giảm 19,2%; vận tải, kho bãi 4.033 doanh nghiệp, giảm 5,3%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 3.830 doanh nghiệp, giảm 21,5%; thông tin truyền thông 2.781 doanh nghiệp, giảm 3,6%; giáo dục và đào tạo 2.658 doanh nghiệp, giảm 14,4%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 967 doanh nghiệp, giảm 11,9%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 667 doanh nghiệp, giảm 5,3%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí 650 doanh nghiệp, giảm 37,2%; khai khoáng 500 doanh nghiệp, giảm 1,2%.

Trong 9 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 38,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 81,8% so với cùng kỳ năm trước; 27,6 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 2,4%; gần 12,1 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 0,1%, trong đó có 10,7 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, giảm 1,4%; 192 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, tăng 15,7%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có gần 4,7 nghìn doanh nghiệp; công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.333 doanh nghiệp; xây dựng có 1.008 doanh nghiệp; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác có 766 doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản có 696 doanh nghiệp; dịch vụ lưu trú và ăn uống có 650 doanh nghiệp; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng, các dịch vụ hỗ trợ khác có 646 doanh nghiệp; vận tải, kho bãi có 485 doanh nghiệp; giáo dục, đào tạo có 449 doanh nghiệp; thông tin truyền thông có 425 doanh nghiệp. Trong 9 tháng, trên cả nước còn có 36,5 nghìn doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 39,6% so với cùng kỳ năm trước.

KHÁCH QUỐC TẾ GIẢM MẠNH ĐÃ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGÀNH DU LỊCH CỦA VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀOThực hiện các biện pháp phòng, chống dịch...
16/10/2020

KHÁCH QUỐC TẾ GIẢM MẠNH ĐÃ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGÀNH DU LỊCH CỦA VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO

Thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 nên khách quốc tế đến nước ta trong quý III/2020 chủ yếu là chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam. Trong tháng Chín, khách quốc tế ước tính đạt 13,8 nghìn lượt người, giảm 15,5% so với tháng trước và giảm 99,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2020, khách quốc tế đến nước ta đạt gần 3.788,5 nghìn lượt người, giảm 70,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách quốc tế đến trong quý I/2020 chiếm 97,3%, trong quý II và quý III chỉ chiếm 1,5% và 1,2%.

Sau giai đoạn thực hiện giãn cách xã hội những tháng đầu năm, ngành du lịch Việt Nam lại tiếp tục đối mặt với “khó khăn chồng chất khó khăn” khi dịch Covid-19 bùng phát trở lại trong cộng đồng tại một số địa phương trên cả nước. Không chỉ các thành phố lớn mà hoạt động du lịch ở nhiều địa phương cũng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh. Trong 9 tháng năm 2020, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước tính đạt 369,3 nghìn tỷ đồng, giảm 15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Khánh Hòa giảm 59,8%; Quảng Nam giảm 53,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 41,3%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 39,9%; Đà Nẵng giảm 35,7%; Cần Thơ giảm 24,7%; Bình Định giảm 16,3%; Thanh Hóa giảm 16,2%; Hà Nội giảm 15,7%; Tiền Giang giảm 14,5%... Doanh thu du lịch lữ hành 9 tháng ước tính đạt 14,2 nghìn tỷ đồng, giảm 56,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Khánh Hòa giảm 78,7%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 73,7%; Quảng Nam giảm 70,6%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 68,5%; Đà Nẵng giảm 68,1%; Cần Thơ giảm 57,1%; Quảng Ninh giảm 49,8%; Bình Định giảm 44,3%; Hà Nội giảm 42,6%; Thanh Hóa giảm 39,9%; Hải Phòng giảm 34,9%.

Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú và ăn uống, du lich, lữ hành cũng điêu đứng trước dịch Covid-19. Trong 9 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống là 2.414 doanh nghiệp, tăng 120,3% so với cùng kỳ năm trước; ngành dịch vụ việc làm, du lịch và các dịch vụ hỗ trợ khác là 2.320 doanh nghiệp, tăng 109,4%. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống là 650 doanh nghiệp; dịch vụ việc làm, du lịch, và các dịch vụ hỗ trợ khác là 646 doanh nghiệp.

Để vượt qua những khó khăn, thách thức trong giai đoạn này, các doanh nghiệp du lịch rất cần sự ủng hộ, chia sẻ, hỗ trợ từ Chính phủ, lãnh đạo chính quyền các cấp, các ngành cũng như của cả cộng đồng để có thể phục hồi, tăng trưởng trở lại trong những tháng cuối năm 2020..

9 THÁNG XUẤT SIÊU 17 TỶ USD - ĐIỂM SÁNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAMTrong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên thế giớ...
16/10/2020

9 THÁNG XUẤT SIÊU 17 TỶ USD - ĐIỂM SÁNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên thế giới làm đứt gãy thương mại quốc tế, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tiếp tục đạt mức xuất siêu lên tới gần 17 tỷ USD sau 9 tháng là một điểm sáng của nền kinh tế, mức xuất siêu này gấp 2,6 lần cùng kỳ năm 2018 và gấp 2,3 lần cùng kỳ năm 2019. Trong đó phải kể đến sự đóng góp của xuất khẩu với 202,9 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước với 30 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 91,3% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó điện thoại và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 36,7 tỷ USD; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 32,2 tỷ USD; hàng dệt may đạt 22,1 tỷ USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 18,2 tỷ USD; giày dép đạt 12,1 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,5 tỷ USD; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 6,5 tỷ USD; thủy sản đạt 6 tỷ USD. Đáng chú ý là khu vực kinh tế trong nước ngày càng khẳng định vai trò đóng góp của mình khi có giá trị kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đạt 71,8 tỷ USD, tăng cao 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu tăng trong đại dịch chứng tỏ các nước vẫn đặt hàng hóa Việt Nam ở vị trí ưu tiên. Xuất siêu lớn còn mang lại tác động tích cực tới tỷ giá hối đoái, tới dự trữ ngoại hối trong bối cảnh Việt Nam cần có thêm nguồn lực để chuẩn bị cho phục hồi kinh tế hậu Covid-19.

Tuy nhiên, mức xuất siêu kỷ lục hiện nay còn thiếu tính bền vững khi kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đạt 185,9 tỷ USD, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước. Nền kinh tế Việt Nam đang phụ thuộc lớn vào nguyên, nhiên liệu nhập khẩu. Khi thương mại toàn cầu bị đứt gãy do tác động tiêu cực của dịch Covid-19, việc các doanh nghiệp Việt Nam thiếu đơn hàng, hoạt động sản xuất bị đình trệ đã dẫn tới hệ lụy là suy giảm nhập khẩu. Trong cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 9 tháng năm 2020, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm tới 93,5% tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu nhưng ước tính đạt 173,7 tỷ USD, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất công nghiệp của cả nước 9 tháng năm nay cũng chỉ tăng 2,4%, cho thấy sản xuất đang đối mặt với nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới việc làm và thu nhập của người dân.

Để bức tranh xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng trong thời gian tới, chúng ta cần cơ cấu lại hàng hóa xuất nhập khẩu, xây dựng chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào, phát triển công nghiệp hỗ trợ… nhằm giúp kinh tế Việt Nam không quá phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu bên ngoài. Đồng thời có biện pháp kích cầu đầu tư trong khối doanh nghiệp sản xuất cho xuất khẩu để chủ động nguồn hàng khi thị trường các nước trên thế giới mở lại bình thường và tận dụng cơ hội từ Hiệp định Thương mại tự do châu Âu - Việt Nam. Cần có chính sách khuyến khích và hạn chế nhập khẩu phù hợp với tình hình sản xuất, cung cầu trong nước như khuyến khích nhập khẩu máy móc thiết bị mở rộng sản xuất, hạn chế nhập khẩu các mặt hàng, nhóm hàng hóa trong nước có đủ năng lực sản xuất. Chính phủ và doanh nghiệp nghiên cứu các giải pháp về thể chế, nguồn nhân lực, quy trình, công nghệ sản xuất và chiến lược kinh doanh để tận dụng và hòa nhập được các quy định Hiệp định Thương mại tự do và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và EU (EVFTA và IPA).

LẠM PHÁT ĐANG ĐƯỢC KIỂM SOÁT RẤT TỐTChỉ số giá tiêu dùng (CPI) 9 tháng năm 2020 tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, chủ...
15/10/2020

LẠM PHÁT ĐANG ĐƯỢC KIỂM SOÁT RẤT TỐT
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 9 tháng năm 2020 tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá thịt lợn tăng 70,55% (làm CPI chung tăng 2,39%); bên cạnh đó, ảnh hưởng của dịch Covid-19 cũng khiến giá một số mặt hàng y tế tăng cao và tại một số thời điểm, một bộ phận người dân tập trung đi mua hàng dự trữ nhu yếu phẩm nên có những tác động nhất định đến tâm lý chung toàn xã hội.
Nhìn chung, mặt bằng giá 9 tháng năm nay tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, ngay từ tháng Một đã tăng 6,43%, ảnh hưởng đến công tác quản lý, điều hành giá của năm 2020, dẫn đến việc kiểm soát lạm phát theo mục tiêu dưới 4% Quốc hội đặt ra gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo, điều hành sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương, mức tăng của CPI được kiểm soát dần qua từng tháng và mức tăng CPI 8 tháng đầu năm nay (3,96%) bắt đầu xuống dưới mức 4%, đến 9 tháng tiếp tục theo xu hướng tốc độ tăng thấp dần với 3,85%. Tổng cục Thống kê dự kiến trong những tháng cuối năm sẽ có một số yếu tố chính ảnh hưởng đến lạm phát gồm: (i) Giá nhiên liệu sẽ có những diễn biến phức tạp, khó lường và nhiều khả năng tiếp tục xu hướng tăng do nhu cầu thế giới phục hồi khi các quốc gia đang dần nới lỏng các biện pháp cách ly xã hội và khôi phục sản xuất; (ii) Giá thóc gạo chịu các tác động trái chiều khi Hiệp định EVFTA tạo động lực tích cực cho xuất khẩu gạo của
Việt Nam, nhu cầu gạo của thế giới ở mức cao do dịch bệnh ở nhiều nước còn diễn biến phức tạp, tuy nhiên, do nguồn cung trong nước dồi dào nên dự báo giá gạo tăng nhẹ; (iii) Rủi ro về thiên tai và thời tiết bất lợi có thể làm tăng giá một số mặt hàng thiết yếu tại những địa phương bị ảnh hưởng. Ở chiều ngược lại, giá thịt lợn sẽ là yếu tố kiềm chế mức tăng của CPI do nguồn cung đang được bổ sung từ việc tái đàn. Vì vậy, trên cơ sở đánh giá, dự báo xu hướng giá cả thế giới và trong nước, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Thống kê dự kiến CPI bình quân năm 2020 so với năm 2019 khả năng cao đạt mục tiêu Quốc đề ra dưới 4%./.

_ theo tổng cục thống kê_

SỐ DOANH NGHIỆP TẠM NGỪNG KINH DOANH TRONG THÁNG 9 NGÀY CÀNG TĂNGTrong 9 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có ...
13/10/2020

SỐ DOANH NGHIỆP TẠM NGỪNG KINH DOANH TRONG THÁNG 9 NGÀY CÀNG TĂNG

Trong 9 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 38,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 81,8% so với cùng kỳ năm trước.

Trong báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2020, Tổng cục Thống kê cho biết, trong tháng 9/2020 cả nước có 10,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 203,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 83 nghìn, giảm 23,1% về số doanh nghiệp, giảm 29,6% về vốn đăng ký và giảm 13,8% về số lao động so với tháng trước.

Theo cơ quan này, sự sụt giảm cả về số lượng doanh nghiệp thành lập mới, vốn đăng ký và số lao động là do ảnh hưởng của dịch COVID-19, cộng thêm tháng 9 dương lịch trùng vào tháng 7 âm lịch.

Tính chung 9 tháng, cả nước có gần 99 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.428,5 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 777,9 nghìn lao động, giảm 3,2% về số doanh nghiệp, tăng 10,7% về vốn đăng ký và giảm 16,3% về số lao động so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng đạt 14,4 tỷ đồng, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước.

Nếu tính cả 2.173,4 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 29,5 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 9 tháng năm nay là 3.601,9 nghìn tỷ đồng, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, còn có 34,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 25,5% so với 9 tháng năm 2019, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 9 tháng lên 133,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 9 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 38,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 81,8% so với cùng kỳ năm trước; 27,6 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 2,4%; gần 12,1 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 0,1%; 36,5 nghìn doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 39,6%.

Theo Tổng cục Thống kê, kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2020 cho thấy: Có 32,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2020 tốt hơn quý II/2020; 31,9% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 35,9% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định.

Dự kiến quý IV/2020 so với quý III/2020, có 45,6% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 19% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 35,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

TOP 100 ĐẠI GIA VỀ VỐN HÓA LỚN NHẤT THẾ GIỚI NĂM 2020Ba gã khổng lồ công nghệ gồm Apple, Amazon và Microsoft dẫn dẫn đầu...
13/10/2020

TOP 100 ĐẠI GIA VỀ VỐN HÓA LỚN NHẤT THẾ GIỚI NĂM 2020

Ba gã khổng lồ công nghệ gồm Apple, Amazon và Microsoft dẫn dẫn đầu về vốn hoá tại khu vực Bắc Mỹ. Trong khi đó, tại Châu Á, hai đại gia công nghệ Alibaba và Tencent có vốn hoá lớn nhất.

6 NGUYÊN NHÂN CHÍNH KHIẾN CÁC STARTUP MÃI KHÔNG THÀNH CÔNGNghĩ tiền nhà đầu tư đến ngayTrên thực tế, những nhà đầu tư là...
13/10/2020

6 NGUYÊN NHÂN CHÍNH KHIẾN CÁC STARTUP MÃI KHÔNG THÀNH CÔNG

Nghĩ tiền nhà đầu tư đến ngay
Trên thực tế, những nhà đầu tư là những con sói già lão luyện, không gì qua được mắt họ và tiền của họ không phải để làm từ thiện, họ không bao giờ “vung” tiền bừa bãi. Vậy nên startup hãy cố gắng sống sót trong thời gian 1 năm đầu hay ít nhất là 6 tháng của sản phẩm, lúc đó hãy mong có nhà đầu tư để ý đến bạn.

Trong thời gian này, cần nghĩ tới kế hoạch kinh doanh, chiến lược phát triển sản phẩm và các kế hoạch truyền thông, marketing, kế hoạch tài chính, khủng hoảng…

Quá thần tượng ý tưởng mà không chia sẻ
Hãy chia sẻ cho thật nhiều người biết đến ý tưởng của bạn thì bạn sẽ nhận lại được rất nhiều góp ý quý giá mà trước đó bạn chưa thể lường trước được.

Các startup thường hay nghĩ ý tưởng của mình là tuyệt vời, độc đáo chưa ai nghĩ ra nên rất sợ ai đó nghe được thì sẽ ăn cắp mất, mà không biết rằng thế giới còn có nhiều ý tưởng hay hơn thế rất nhiều, quan trọng là làm thế nào.

Bỏ qua nghiên cứu thị trường
Thường cho rằng, các sản phẩm của mình nhanh chóng đáp ứng nhu cầu xã hội nên startup bắt tay vào làm. Tuy nhiên, điều này quả không dễ dàng, vì vậy startup phải chịu khó nghiên cứu, ước lượng được quy mô thị trường, đối thủ cạnh tranh, mô hình kinh doanh và các lợi thế cạnh tranh…

Đơn độc trong thực hiện
Bạn đừng nghĩ bạn giỏi về công nghệ, sản phẩm lõi thì chỉ cần làm tốt về công nghệ và sản phẩm sẽ thành công.

Đó là suy nghĩ hoàn toàn sai lầm. Để thành công được, bạn cần phải có người đồng hành xuyên suốt quá trình là những người giỏi về các mảng khác như kinh doanh, tài chính, sáng tạo, quản lý…

Bỏ qua marketing
Luôn nghĩ “hữu xạ tự nhiên hương”, cho rằng sản phẩm mình tốt thì ắt sẽ có nhiều người dùng mà không phải làm marketing. Cho dù sản phẩm của bạn có tốt thế nào thì khi khách hàng chưa từng sử dụng, họ cũng sẽ lưỡng lự. Chỉ khi bạn khiến họ quay đầu 4 hướng đều thấy sản phẩm đó thì họ mới chấp nhận dùng thử.

Không mạnh tay xóa bỏ những gì không hợp
Cần phải áp dụng tư duy “move fast & break things” để hành động. Nghĩa là phải tự thay đổi mình thật nhanh, tránh tư duy trì trệ, lối mòn và phải phá bỏ những thứ thấy không khả thi, những thứ không có khả năng phát triển. Thực tế, nhiều đơn vị không dám tự kết liễu sản phẩm sắp thất bại mà để nó sống một cuộc sống thực vật vô nghĩa khiến mất chi phí và cơ hội.

XU HƯỚNG ĐẦU TƯ NĂM 2020 (PHẦN 3)✅✅ Đầu tư vào chứng khoán, cổ phiếuLà kênh đầu tư lâu đời, chứng khoán đã và đang ng...
23/09/2020

XU HƯỚNG ĐẦU TƯ NĂM 2020 (PHẦN 3)

✅✅ Đầu tư vào chứng khoán, cổ phiếu
Là kênh đầu tư lâu đời, chứng khoán đã và đang ngày càng trở nên phổ biến tại Việt Nam. Kênh này cũng trở nên phù hợp bởi linh hoạt về quy mô vốn, có tính thanh khoản cao và trở thành một trong các đối thủ của cuộc đua vào top xu hướng đầu tư 2020. Tuy nhiên, đây là một trong những kênh đầu tư khá nguy hiểm nếu như bạn không có kiến thức sâu về tài chính và sự am hiểu và thích ứng với thị trường nhanh.
Kênh đầu tư này có lợi nhuận cao, tỷ suất sinh lời rất cao nếu như tìm được đúng mã cổ phiếu và chứng khoán tăng. Tuy nhiên, cũng không ít người mất trắng cả cơ nghiệp với kênh đầu tư này do thiếu hiểu biết.
Ở góc nhìn về trung và dài hạn thì đây cũng là một trong những kênh đầu tư tiềm năng, có khả năng mang lại lợi nhuận tốt. Sự thay đổi của thị trường từ đầu năm 2020 cũng là một trong những cơ hội béo bở cho các nhà đầu tư bỏ tiền vào cổ phiếu nếu muốn sở hữu một danh mục lớn cổ phiếu giá rẻ và chờ ngày b**g nóc.
Tuy nhiên, muốn an toàn, các nhà đầu tư vẫn nên chọn những công ty lớn, đi đầu để đủ tiềm lực vượt qua đại dịch Covid.

✅✅ Gửi tiết kiệm
Từ đầu năm nay, đây là kênh đầu an toàn nhất nhằm bảo vệ đồng tiền của mình an toàn nhất. Tuy lãi suất gửi tiết kiệm giảm khá nhiều từ đầu năm nay nhưng đây vẫn là kênh mà các nhà đầu tư đơn lẻ lựa chọn giữa đại dịch Covid diễn ra phức tạp.
Tham gia mua trái phiếu doanh nghiệp
Trong 5 năm trở lại đây, việc tham gia mua trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam tăng mạnh, kênh đầu tư này trở lên vô cùng hot thu hút sự quan tâm và tham gia của nhiều nhà đầu tư cá nhân.
Trái phiếu doanh nghiệp thường mang lại mức lợi tức từ 9-10%/năm, cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm bởi nó tính theo lãi suất tiền gửi cộng với tỷ suất sinh lời mà doanh nghiệp làm ăn có lãi.

XU HƯỚNG ĐẦU TƯ NĂM 2020 (PHẦN 2)✅✅ Bỏ tiền vào quỹ đầu tư PTA – đầu tư bảo lãnhĐây đang là một xu hướng rất mới và đ...
22/09/2020

XU HƯỚNG ĐẦU TƯ NĂM 2020 (PHẦN 2)

✅✅ Bỏ tiền vào quỹ đầu tư PTA – đầu tư bảo lãnh
Đây đang là một xu hướng rất mới và đang phát triển tại thị trường Việt Nam. Đặc biệt trong những năm trở lại đây, xu hướng bỏ tiền vào quỹ đầu tư bảo lãnh ngày càng nhận được những phản hồi tích cực.
Đa phần, các nhân thường ít có kiến thức chuyên sâu về tài chính, về thị trường chứng khoán, ít có thời gian theo dõi và bám sát thị trường. Tuy nhiên, lại muốn tìm kiếm một kênh đầu tư dài hạn, an toàn, có lợi nhuận thì bỏ tiền vào quỹ đầu tư là một lựa chọn sáng giá.
Kênh đầu tư này là việc mang tiền góp vốn vào quỹ đầu tư nào đó có uy tín tài chính cao. Hình thức này có ưu điểm lớn nhất chính là nhận được sự tư vấn và hậu thuẫn của chuyên gia thuộc nhiều nhóm ngành khác nhau. Trong quỹ này có các đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm liên tục tìm kiếm đánh giá các dự án đầu tư có tỷ suất sinh lời cao, sau đó đưa cơ hội đầu tư này đưa đến tay các nhà đầu tư Việt Nam.
Quỹ đầu tư PTA là một trong những quỹ đầu tư lớn, có uy tín tài chính cao đã giúp rất nhiều các nhà đầu tư đạt được lợi nhuận mong muốn.

✅✅ Kênh đầu tư Vàng được coi trọng
Trong thời kỳ diễn biến của dịch bệnh Covid trở lên phức tạp, vàng được coi là một kênh tích trữ an toàn. Ông Wayne Gordon - Giám đốc điều hành tại đơn vị quản lý tài sản của Tập đoàn UBS Group AG nhận định: “Vàng mang đến cho chúng ta những gì cần có trong giai đoạn khủng hoảng. Đây là một hình thức đảm bảo thanh khoản khi cần".
Vàng được coi là kênh đầu tư và tích trữ an toàn bởi vàng vừa tích trữ giá trị, vừa mang lại lợi nhuận. Trong 3 năm trở lại đây, sự biến động giá cả của vàng cho thấy khả năng sinh lời của vàng cao rõ rệt. Đỉnh điểm trong giai đoạn này có lúc vàng tăng hơn 10% chỉ trong 2 tháng.
Tuy nhiên, một nhược điểm của kênh đầu tư tích trữ vàng chính là sự phụ thuộc vào cung-cầu của thị trường. Chính vì thế rất khó xác định giá trị thực của nó nên tính rủi ro của vàng khá cao nếu lựa chọn sai thời điểm mua vào bán ra.

Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam vượt 337 tỷ USDTính đến hết tháng 8/2020, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hó...
21/09/2020

Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam vượt 337 tỷ USD
Tính đến hết tháng 8/2020, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 337,23 tỷ USD, tương đương với cùng kỳ năm trước.
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước trong tháng 8/2020 đạt 50,42 tỷ USD, tăng 7,4% so với tháng trước. Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 27,70 tỷ USD, tăng 11,4% so với tháng trước (tương ứng tăng 2,83 tỷ USD); nhập khẩu đạt 22,72 tỷ USD, tăng 2,8% (tương ứng tăng 625 triệu USD).

Tính đến hết tháng 8/2020, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 337,23 tỷ USD, tương đương với cùng kỳ năm trước. Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 175,36 tỷ USD, tăng 2,3% và nhập khẩu đạt 161,87 tỷ USD, giảm 2,4%.

Trong tháng 8/2020, cán cân thương mại h​àng hóa thặng dư 4,99 tỷ USD. Kết quả này đã góp phần đưa mức thặng dư thương mại hàng hóa của cả nước trong 8 tháng/2020 đạt thặng dư 13,49 tỷ USD.

Xuất khẩu hàng hóa trong tháng 8/2020 đạt 27,7 tỷ USD, tăng 11,4% về số tương đối và tăng 2,83 tỷ USD về số tuyệt đối so với tháng 7. So với tháng trước, các mặt hàng tăng mạnh trong tháng là: điện thoại các loại & linh kiện tăng 1,06 tỷ USD, tương ứng tăng 24,8%; đá quý, kim loại quý & sản phẩm tăng 519 triệu USD, tương ứng tăng 124,9%; máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng khác tăng 403 triệu USD, tương ứng tăng 17,6%; phương tiện vận tải & phụ tùng tăng 336 triệu USD, tương ứng tăng 54,6%...

Tính đến hết tháng 8/2020 tổng trị giá xuất khẩu đạt 175,36 tỷ USD, tăng 2,3%, tương ứng tăng 4,01 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Trong đó máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 5,6 tỷ USD, tương ứng tăng 25,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 3,99 tỷ USD, tương ứng tăng 34,9%; đá quý, kim loại quý & sản phẩm tăng 691 triệu USD, tương ứng tăng 44,1%; đồ chơi, dụng cụ thể thao & bộ phận tăng 664 triệu USD, tương ứng tăng 63,7%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 650 triệu USD, tương ứng tăng 9,7%...

Bên cạnh đó có một số nhóm hàng giảm mạnh như hàng dệt may giảm 2,5 tỷ USD, tương ứng giảm 11,5%; điện thoại các loại & linh kiện giảm 1,79 tỷ USD, tương ứng giảm 5,4%; máy ảnh, máy quay phim & linh kiện giảm 1,09 tỷ USD, tương ứng giảm 41,3%; giày dép các loại giảm 1,05 tỷ USD, tương ứng giảm 8,8%...

Nhập khẩu hàng hóa trong tháng 8/2020 là 22,72 tỷ USD, tăng 2,8% về số tương đối, tương ứng tăng 625 triệu USD về số tuyệt đối so với tháng trước. Các mặt hàng có trị giá tăng so với tháng trước là: điện thoại các loại & linh kiện tăng 433 triệu USD, tương ứng tăng 36,6%; máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 428 triệu USD, tương ứng tăng 7,6%; ô tô nguyên chiếc các loại tăng 94 triệu USD, tương ứng tăng 87,1%; thức ăn gia súc & nguyên liệu tăng 85 triệu USD, tương ứng tăng 26,8%...

Tổng trị giá nhập khẩu trong 8 tháng/2020 giảm 2,4%, tương ứng giảm 4,01 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: xăng dầu các loại giảm 1,59 tỷ USD, tương ứng giảm 40,2%; vải giảm 1,27 tỷ USD, tương ứng giảm 14,6%; sắt thép các loại giảm 1,03 tỷ USD, tương ứng giảm 15,9%; ô tô nguyên chiếc các loại giảm 923 triệu USD, tương ứng giảm 43%...

Về thị trường xuất nhập khẩu, trong 8 tháng tính từ đầu năm 2020, trao đổi thương mại hàng hóa của Việt Nam với châu Mỹ đạt 69,51 tỷ USD, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm 2019, liên tục là châu lục đạt mức tăng trưởng cao nhất.

Xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với châu Á tiếp tục chiếm tỷ trọng cao nhất (63,9%) trong tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước. Trị giá xuất nhập khẩu trong 8 tháng/2020 với thị trường này đạt 215,58 tỷ USD, giảm 2% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó trị giá xuất khẩu là 86,33 tỷ USD, giảm nhẹ 0,8% và trị giá nhập khẩu là 129,25 tỷ USD, giảm 2,9%.

Trị giá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các châu lục khác lần lượt là: châu Âu: 41,36 tỷ USD, giảm 5,7%; châu Đại Dương: 6,3 tỷ USD, giảm nhẹ 0,8% và châu Phi: 4,47 tỷ USD, giảm 6% so với 8 tháng/2019.

TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP PHÁT HÀNH CÔNG CHÚNG SẼ PHẢI GẮN VỚI XẾP HẠNG TÍN NHIỆM                                         ...
21/09/2020

TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP PHÁT HÀNH CÔNG CHÚNG SẼ PHẢI GẮN VỚI XẾP HẠNG TÍN NHIỆM

Trước sự tăng trưởng và phát triển nhanh của thị trường TPDN, ông Dương cho biết Bộ Tài chính đã thực hiện đồng bộ các giải pháp về cơ chế chính sách và quản lý giám sát để hạn chế, giảm thiểu những rủi ro cho thị trường.
Ghi nhận tại bài trả lời phỏng vấn mới đây của ông Nguyễn Hoàng Dương - Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính: Thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) trong những năm gần đây đã trở thành kênh huy động vốn ngày càng quan trọng cho các DN, từng bước cho thấy sự dịch chuyển vốn từ kênh tín dụng ngân hàng sang kênh phát hành trái phiếu theo đúng định hướng của Chính phủ về phát triển thị trường vốn cân bằng với thị trường tín dụng ngân hàng, giảm áp lực cung ứng vốn cho kênh tín dụng ngân hàng.

Thị trường TPDN có sự tăng trưởng nhanh về quy mô, đến cuối tháng 7/2020 ở mức tương đương 11,2% GDP năm 2019. So với một số nước trong khu vực, mặc dù quy mô thị trường TPDN còn ở mức thấp, tuy nhiên sự phát triển nhanh của thị trường TPDN thời gian qua cũng đặt ra một số rủi ro đối với thị trường này.

Trước sự tăng trưởng và phát triển nhanh của thị trường TPDN, ông Dương cho biết Bộ Tài chính đã thực hiện đồng bộ các giải pháp về cơ chế chính sách và quản lý giám sát để hạn chế, giảm thiểu những rủi ro cho thị trường.

Cụ thể, Nghị định số 163/2018/NĐ-CP đã bổ sung quy định về hạn chế giao dịch trong vòng 1 năm kể từ ngày phát hành để phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng; hoàn thiện cơ chế công bố thông tin và thiết lập chuyên trang thông tin về TPDN riêng lẻ; yêu cầu trái phiếu phải được đăng ký, lưu ký nhằm kiểm soát nhà đầu tư và hạn chế khi giao dịch trái phiếu.

Trong bối cảnh doanh nghiệp đẩy mạnh phát hành trái phiếu để huy động vốn, nhà đầu tư cá nhân nhỏ, lẻ vẫn được mua TPDN riêng lẻ, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163 nhằm nâng cao tiêu chuẩn, điều kiện phát hành; khống chế khối lượng phát hành theo phương thức riêng lẻ; quy định khoảng cách giữa các đợt phát hành tối thiểu 6 tháng; chuẩn hóa hồ sơ phát hành; yêu cầu DN công bố thông tin cụ thể về mục đích phát hành trái phiếu tạo điều kiện để nhà đầu tư giám sát; tăng cường chế độ công bố thông tin, báo cáo.

"Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục thành lập các đoàn kiểm tra liên bộ để kiểm tra tình hình phát hành, cung cấp dịch vụ, đầu tư, giao dịch TPDN đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật", vị này nhấn mạnh.

XU HƯỚNG ĐẦU TƯ NĂM 2020 (PHẦN 1)Tính từ cuối năm 2019 đến nay, dịch COVID khiến không chỉ nền kinh tế Việt Nam mà cả...
21/09/2020

XU HƯỚNG ĐẦU TƯ NĂM 2020 (PHẦN 1)

Tính từ cuối năm 2019 đến nay, dịch COVID khiến không chỉ nền kinh tế Việt Nam mà cả nền kinh tế thế giới trở lên điêu đứng. Các công ty lớn cắt giảm nhân sự trên quy mô toàn cầu khiến cho nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng. Cũng vì lý do này mà từ đầu năm 2020 đến nay, xu hướng đầu tư trở nên phổ biến, được coi trọng đặc biệt lựa chọn đầu tư tài chính được xem là điểm nhấn nổi trội, hình thành nên các xu hướng đầu tư năm 2020.

Trong năm 2020, các xu thế đầu tư sẽ tập trung vào những hoạt động mang lại tính bền vững cao về dài hạn và có khả năng thích nghi tốt với diễn biến của nền kinh tế đặc biệt là đầu tư tài chính.
Trong bài viết này, PTA sẽ cùng các bạn tìm về các kênh đầu tư tài chính được đánh giá cao nhất từ đầu năm 2020 đến nay:

✅✅ Đầu tư vào bất động sản “hot” trở lại
Từ đầu năm 2020 đến nay, ngành bất động sản có rất nhiều sự thay đổi tích cực. Có thể kể đến quan trọng nhất chính là sự thay đổi về chính sách đối với ngành bất động sản đã giúp ngành này trở nên ổn định hơn và trở nên “hot” hơn. Bên cạnh đó, thị trường bất động sản cũng bắt đầu tiến hành “sàng lọc” và “đào thải” những công ty có biểu hiện của việc làm ăn không minh bạch giúp cho môi trường bất động sản trở lên an toàn. Do đó, bất động sản sẽ là một kênh đầu tư đáng chú ý trong năm 2020.
Bằng chứng chính là từ đầu năm nay, ngay cả trong thời gian diễn ra dịch bệnh thì nhà đất vẫn chứng minh được tính hấp dẫn và bình ổn của mình. Mặc dù có chịu sự tác động của bệnh dịch nhưng xu hướng bất động sản đất nền vẫn “hot” và được giới đầu tư quan tâm.
Sau công cuộc chống dịch tạm ổn, gần như ngành bất động sản đã lấy lại được vị thế của mình và nhanh chóng bắt tay vào phục hồi. Đây được xem là tín hiệu đáng mừng, thị trường sắp tới sẽ tập trung vào những giá trị thực thay vì ồ ạt và thổi b**g bóng như trước.

Address

Hanoi
10000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when PTA posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category