21/04/2026
Nữ thanh niên thế kỉ thứ 10
Những ngày gần đây, từ một bài viết, người đọc biết đến giáo sư Trần Quốc Vượng qua giai thoại “xem bói định vợ” ở mối tình cuối đời ông, nhưng không nhiều người rõ, ông là một nhà sử học “như thế nào”.
Trong Tứ trụ sử học Việt Nam đương đại Lâm - Lê - Tấn - Vượng, thì giáo sư Trần Quốc Vương được mệnh danh là người "đọc nát sử Tàu, hiểu sâu sử Việt", nổi tiếng với phương pháp nghiên cứu gắn liền với những chuyến đi điền dã miệt mài, tránh xa lối mòn của sử học sa lông. Ông cho rằng, lịch sử không chỉ nằm trên giấy, mà nằm ở dưới đất (khảo cổ) và trong nhân dân (văn hóa dân gian). Ông mang ba lô đi khắp mọi miền đất nước, lê la từ quán nước vỉa hè đến những đình, chùa, miếu mạo, trò chuyện với các cụ già trưởng bản, những người nông dân để "bắt mạch" lịch sử. Chính những chuyến đi thực tế này đã thổi hồn vào các công trình nghiên cứu của ông, khiến chúng luôn ăm ắp hơi thở của sự sống.
Ông không bao giờ nghiên cứu lịch sử một cách cô lập mà luôn đặt nó trong mối tương quan chặt chẽ với Khảo cổ học, Địa lý học, Dân tộc học và Văn hóa học. Khái niệm "Địa - Văn hóa" (Geo-culture) hay "Địa - Lịch sử" được ông vận dụng vô cùng nhuần nhuyễn. Ông giải thích các sự kiện lịch sử thông qua đặc điểm địa hình, thủy hệ, và phong tục tập quán của từng vùng đất, tạo ra những góc nhìn vô cùng mới mẻ và thuyết phục.
Nét quyến rũ nhất trong phương pháp sử học của Trần Quốc Vượng. Ông có một câu nói nổi tiếng: "Huyền thoại là lịch sử được bọc trong lớp sương mù của thi ca và trí tưởng tượng". Thay vì gạt bỏ truyền thuyết, ca dao, tục ngữ như những yếu tố phi lịch sử, ông dùng nhãn quan khảo cổ và văn hóa để "bóc tách" lớp vỏ huyền thoại, từ đó tìm ra hạt nhân sự thật lịch sử bên trong (ví dụ như việc giải mã truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh, Thánh Gióng, hay An Dương Vương). Ông chú trọng đến "sử dân" (lịch sử của quần chúng) thay vì chỉ chăm chăm vào "sử quan" (lịch sử của vua chúa, triều đại).
Vì lẽ đó, các nghiên cứu của ông bao trùm từ cổ sử, khảo cổ cho đến văn hóa dân gian, địa lý lịch sử. Ông là người đi tiên phong trong việc phát triển bộ môn Văn hóa học ở Việt Nam và để lại rất nhiều tác phẩm giá trị về lịch sử.
Và vì tính cách khác biệt, đôi phần ngang tàng so với 3 vị “chỉn chu” còn lại, nên trước tác của ông cũng trở nên vô cùng đặc sắc, lôi cuốn, nhất là khi kết hợp với nhà dân tộc học, giáo sư Nguyễn Từ Chi.
Cũng là sử Việt, cũng nghìn năm văn hiến, nhưng ông gọi đó là NGHÌN XƯA. Trong nghìn xưa đó, cha ông chúng ta hiện ra đầy khí phách, hào sảng, lồng lộng, bặt thiệp, nho nhã, thông minh riêng có gắn liền với văn hóa dân tộc, với cội nguồn, mà chưa từng có tác giả nào đề cập đến. Từ Quả Bầu Tiên, Pú Lương Quân đến người nguyên thủy ở núi Đọ, hang động Hòa Bình hay núi rừng Bắc Sơn. Từ Chín chúa tranh vua đến đánh rã 50 vạn quân Tần. Từ ông Nồi ông Nỏ đến người con gái nhẹ dạ. Từ Lê Chân một tấm gương liệt nữ đến Nữ tướng Thiều Hoa. Từ Câu chuyện thần dân tộc và tên phù thủy địch đến Nữ thanh niên thế kỉ thứ 10.
Ôi, một con người kì dị và sắc sảo, hào sảng, lạnh lùng nhưng lại vô cùng ấm áp.
Văn ông ngắn, các câu chuyện luôn chỉ trên dưới 1-2 ngàn chữ, kiến giải đủ cả lớp lớp thời đại hào hùng liên tu bất tận, nhưng ngôn từ dung dị, câu chuyện lôi cuốn, dường như ông có ý hướng viết cho tuổi thiếu niên, nhi đồng. Dù người lớn như Tiệm đọc thấy vô cùng cuốn hút.
Các bác có biết NỮ THANH NIÊN THẾ KỈ THỨ 10 là ai không?
Các cụ có thấy nhà sử học nào, gọi tằng tổ nhà mình, già hơn mình MỘT NGÀN NĂM, là nữ thanh niên không?
Chỉ có thể là Trần Quốc Vượng.
Sau đây em quớt 1 đoạn ngắn, trích từ bài viết mở đầu của ông, sử mà không sử nhưng lại rất sử. Bài viết mang tên THÁNG NĂM VÀ ĐẤT NƯỚC
““Ra đời trong trời đất, sống giữa muôn vật, con người phải tìm hiểu đất trời, muôn vật. Không tìm hiểu thì không sống nổi. Hiểu được loài vật và cây cỏ, con người mới biết chống lại thú dữ, săn mồi lấy thịt, tránh hái quả độc, tìm trẩy trái lành. Hiểu núi sông, đất đá, con người mới biết trèo núi, lội sông, đi tìm miếng ăn, biết ghè đẽo đá làm đồ dùng và vũ khí thô sơ, để đào được củ nhiều hơn, săn được thú nhiều hơn. Như vậy, từ buổi đầu, con người đã học tập. Học cho biết để làm. Giải thích để cải tạo. Vừa làm vừa học. Làm đến đâu, học đến đấy. Học tập bằng mắt nhìn: quan sát. Học tập bằng tay làm: lao động.
Khi trời đất được chiếu sáng thì con người mới nhìn thấy muôn vật, mới có thể đi lại kiếm miếng ăn. Khi ánh sáng tắt, không kiếm ăn được, con người nghỉ ngơi, ngủ một giấc lấy lại sức, chờ lúc trời đất lại sáng. Như vậy, ngay từ đầu, con người đã phân biệt ngày sáng và đêm tối. Ngày đêm cứ thay phiên nhau; ngày là lúc con người làm việc, đêm là lúc người nghỉ ngơi. Ban ngày nhìn lên trời, con người loá mắt vì ánh sáng mặt trời. Ban đêm, mặt trời không còn nữa, nhưng nhiều đêm trên bầu trời lại hiện ra mặt trăng và các vì sao. Trong trí óc của họ, con người thuở ấy đã gắn mặt trời với ngày, trăng sao với đêm.
Mặt trời không đứng một chỗ. Nó hiện ra, từ từ vượt qua bầu trời, rồi biến mất. Trời vừa hửng, con người đã tỉnh giấc. Đất đã rạng, nhưng còn mát mẻ. Mặt trời càng vượt qua bầu trời, trời đất càng sáng tỏ, nhưng càng nóng lên. Kịp đến khi mặt trời ở đỉnh đầu thì nóng nhất. Mặt trời vẫn tiếp tục chuyển chỗ, càng chuyển trời đất càng bớt nóng, cho đến khi mặt trời vượt hết bầu trời để rồi mất tích sau rặng non xanh. Căn cứ vào vị trí từng lúc của mặt trời, con người phân biệt các buổi: *buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều*. Từng hoạt động của con người có lúc thật ngắn ngủi: nói một câu, bắn một mũi tên, lấy một tổ ong, chặt một cành cây... Để ghi nhớ những hoạt động ngắn ngủi ấy, con người quy mỗi việc đã làm vào một buổi, một lúc nào đó: Cô gái ra suối lấy nước khi mặt trời vừa mọc, ông lão ăn vào buổi trưa, chàng trai bắn chết con sóc này đúng vào lúc mặt trời chỉ còn cách mặt đất khoảng hai con sào...
Mặt trời không ngừng chuyển động. Nhưng, dù vào buổi nào, nheo mắt nhìn lên trời, con người vẫn thấy mặt trời giữ nguyên hình tròn. Mặt trăng không thế. Có đêm trăng chỉ nửa vành, đã vậy lại rất mỏng, như viền móng tay con người. Thế rồi, cứ qua từng đêm, từng đêm một, trăng lớn lên, dày ra, to dần, cho đến khi trở thành một mặt tròn vành vạnh, toả ánh dịu mát, sáng tỏ gần như ngày. Rồi, mỗi đêm mặt trăng mỗi khuyết đi, lẹm dần, lẹm dần cho đến khi chỉ còn là một vành mỏng như viền móng tay. Tiếp theo là đêm không trăng: mặt trăng biến đâu mất, trời đất tối như bưng. Cứ thế “ông trăng khuyết”, “ông trăng lại tròn”. Hoạt động của con người có lúc dài hơi, diễn ra qua nhiều đêm - ngày. Trong trường hợp đó, phải căn cứ vào tuần trăng: bầu đoàn chúng tôi từ chân núi ra đi vào buổi trăng non, cứ ngày đi đêm nghỉ, hôm nay đến bờ biển thì trăng vừa tròn...
Tìm biết lịch sử, chính là tìm biết những bước tiến lên, khi nhanh khi chậm trong thời gian, của đất nước ta, của dân tộc ta, nhân dân ta: thời dựng nước, thời bị nước ngoài đô hộ, thời độc lập, thời Pháp thuộc, thời Cách mạng... Tìm biết lịch sử, cũng là tìm biết ông cha ta đã gian khổ suy nghĩ, hi sinh như thế nào để gạt hết mọi kìm hãm trên bước đường tiến lên của đất nước. Tìm biết để kế tục xứng đáng ông cha ta, năng động, sáng tạo, dũng cảm, vượt mọi khó khăn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước tiến nhanh hơn trên dòng năm tháng.”