Công ty TNHH Thẩm định giá VAI

Công ty TNHH Thẩm định giá VAI Thẩm định giá là dịch vụ giám định tài chính phục vụ nhu cầu của tổ chứ

Thẩm định giá là dịch vụ giám định tài chính phục vụ nhu cầu của tổ chức, cá nhân muốn chứng nhận giá trị của tài sản quy ra tiền tại thời điểm nhất định cho bên thứ ba

Tham dự Hội thảo về Công tác phối hợp giữa BIDV và các công ty thẩm định giá độc lập ngày 01/7/2026
01/07/2026

Tham dự Hội thảo về Công tác phối hợp giữa BIDV và các công ty thẩm định giá độc lập ngày 01/7/2026

Toàn văn Tham luận trong Tọa đàm "Định giá đất - Chìa khóa phát triển bền vững thị trường bất động sản" do tạp chí Nhịp ...
15/06/2026

Toàn văn Tham luận trong Tọa đàm "Định giá đất - Chìa khóa phát triển bền vững thị trường bất động sản" do tạp chí Nhịp sống thị trường (MarketTimes) thuộc Hội Thẩm định giá Việt Nam tổ chức sáng 12/6/2026 tại Trung tâm hội nghị quốc tế, số 11 Lê Hồng Phong, Hà Nội.

Do bài viết khá dài nên bạn đọc xem tại link website: https://vai.pro.vn/tham-luan-trong-toa-dam-dinh-gia-dat-chia-khoa-phat-trien-ben-vung-thi-truong-bat-dong-san.html

Tham gia Tọa đàm "Định giá đất - Chìa khóa phát triển bền vững thị trường bất động sản" do tạp chí Nhịp sống thị trường ...
13/06/2026

Tham gia Tọa đàm "Định giá đất - Chìa khóa phát triển bền vững thị trường bất động sản" do tạp chí Nhịp sống thị trường (MarketTimes) tổ chức sáng 12/6/2026 tại Trung tâm hội nghị quốc tế 11 Lê Hồng Phong Hà Nội.

Tài sản công sau đề án và nỗi lo 'khai sinh' trên sổ sách của đơn vị sự nghiệp công lập - Bài đăng trên Vietnam Finance ...
23/05/2026

Tài sản công sau đề án và nỗi lo 'khai sinh' trên sổ sách của đơn vị sự nghiệp công lập - Bài đăng trên Vietnam Finance ngày 14/05/2026

(VNF) - Theo quy định hiện hành về sử dụng tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập, các giá trị đầu tư của đối tác vào nhà đất theo Đề án sẽ thuộc về bên cho thuê (chuyển giao không bồi hoàn) hoặc nhận chuyển nhượng trong trường hợp liên doanh liên kết (LDLK), tuy nhiên việc thiếu các hướng dẫn quy trình nghiệp vụ chi tiết về tiếp nhận và xác lập giá trị đang gây lúng túng cho các đơn vị thực thi.


Từ chủ trương gia tăng giá trị của tài sản công

Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương xã hội hóa và tận dụng tối đa tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL) nhiều đơn vị đã triển khai các đề án cho thuê mặt bằng hoặc liên doanh liên kết (LDLK) để đầu tư hạ tầng thể thao, dịch vụ.

Phổ biến là những hạng mục công trình như: nhà tạm, sân tennis, sân bóng đá cỏ nhân tạo, sân pickleball… Theo quy định, khi hết thời hạn hợp đồng cho thuê giao không bồi hoàn, hoặc hợp đồng LDLK nếu được bàn giao hay chuyển nhượng lại các hạng mục này sẽ được bàn giao/mua lại cho đơn vị SNCL quản lý, sử dụng.

Tuy nhiên, khi kết thúc hợp đồng cũng là lúc các nhà quản lý đơn vị SNCL rơi vào một mê hồn trận pháp lý. Tài sản hiện hữu trước mắt, giá trị sử dụng còn rất cao, nhưng để "khai sinh" chúng trên sổ sách kế toán lại là một hành trình đầy rẫy rủi ro.

Dù các tài sản này có thể vẫn đang vận hành, sử dụng tốt và vẫn có thể mang lại nguồn thu, nhưng khi đối tác bàn giao lại cho đơn vị SNCL, những tài sản này lại đứng trước nguy cơ trở thành tài sản chưa được ghi nhận trên đất công vì những hướng dẫn khá phức tạp trong quy định về xác định giá trị làm căn cứ ghi tăng sổ sách.


Nghịch lý "0 đồng" và giá trị thực tế

Lỗ hổng đầu tiên nằm ở sự xung đột giữa chế độ kế toán doanh nghiệp và quy định quản lý tài sản công. Với đối tác (bên thuê), họ áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng. Sau 5-10 năm, trên sổ sách của doanh nghiệp, giá trị còn lại của công trình sẽ bằng 0.

Trong quy định về cho thuê tài sản, việc đối tác đầu tư thêm hạng mục tài sản thường không được giám sát quyết toán đầu tư nên bên cho thuê không có thông tin (hồ sơ) theo dõi nguyên giá tại thời điểm đầu tư.

Thế nhưng về mặt kỹ thuật, một sân tennis, hay nhà dịch vụ (nhà tạm hoặc nhà cấp IV) được bảo trì tốt sau 5 năm vẫn có thể còn 60-70% giá trị sử dụng. Nếu đơn vị SNCL tiếp nhận và ghi tăng tài sản theo giá trị 0 đồng của đối tác, họ sẽ ngay lập tức vi phạm nguyên tắc quy định trong thông tư số 141/2025/TT-BTC.

Hệ lụy của việc "ghi tăng 0 đồng" không chỉ dừng lại ở sổ sách. Khi công trình xuống cấp, đơn vị không thể lập dự toán xin kinh phí sửa chữa, bảo trì. Bởi lẽ, cơ quan tài chính sẽ không phê duyệt một danh mục sửa chữa cho một tài sản có "nguyên giá bằng 0" hoặc không tồn tại trên sổ sách kế toán.

Nếu không xác lập giá trị để quản lý, tài sản công sẽ nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nước, dễ dẫn đến tình trạng trục lợi, khai thác trái phép hoặc bị xuống cấp mà không ai chịu trách nhiệm bảo trì, tiếp tục tính sai giá trị cho thuê / LDLK nếu tiếp tục Đề án.


Căn cứ pháp lý để ghi tăng tài sản

Việc tài sản hình thành trong quá trình cho thuê hoặc liên doanh liên kết còn phụ thuộc nhiều vào việc tài sản đấy có được hình thành hợp pháp, phù hợp với quy hoạch và việc quyết định cho tồn tại để tiếp tục khai thác cũng là một vướng mắc không nhỏ.

Hiện nay có nhiều đơn vị đã và đang cho thuê tài sản không có thỏa thuận đầu tư thêm, việc đầu tư các hạng mục của bên thuê đương nhiên không có giấy phép và bên thuê hay cấp thẩm quyền phê duyệt dẫn đến việc mặc dù có tồn tại nhưng rất khó được thừa nhận sau khi kết thúc hợp đồng và được đối tác được cho tặng lại tài sản mà không phá dỡ.

Các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét, có văn bản hướng dẫn về việc xử lý tài sản này theo hướng cho phép tiếp nhận tài sản cho tặng là công trình trong trường hợp đơn vị SNCL có nhu cầu sử dụng tiếp, hạng mục không trái với quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết… để đảm bảo tránh lãng phí vì đa phần chúng đều có giá trị sử dụng và có thể tiếp tục cho thuê như tài sản được hình thành từ nguồn vốn ngân sách khác.


Thông tư 141/2025/TT-BTC: "Chìa khóa" mở cửa nút thắt pháp lý nhưng vẫn còn “chốt cài” chưa thông

Nếu như trước đây, việc xác định giá trị tài sản thiếu hồ sơ gốc thường bị coi là "khoảng trống chính sách", thì sự ra đời của Thông tư số 141/2025/TT-BTC ngày 31/12/2025 của Bộ Tài chính đã cung cấp một hành lang kỹ thuật tương đối rõ nét để giải quyết tình trạng này.

Cụ thể là thông tư đã có cơ chế đánh giá lại theo giá trị hợp lý quy định tại điểm a.4 khoản 3 Điều 6 Thông tư 141: Đối với tài sản cố định phát hiện thừa khi kiểm kê hoặc nhận bàn giao (kể cả chuyển giao giữa các đơn vị) mà không có hồ sơ, đơn vị không được áp đặt giá trị 0 đồng. Thay vào đó, đơn vị phải thực hiện đánh giá lại giá trị tài sản theo giá trị thực tế của tài sản tương đương tại thời điểm đó.

Tuy nhiên, Thông tư 141/2025/TT-BTC vẫn còn quy định thiếu một số trường hợp cụ thể dẫn đến chưa áp dụng được như sau:

Thứ nhất, vướng mắc về ghi nhận nguyên giá - điểm vênh giữa thực tế và hệ thống quản trị. Đây là rào cản kỹ thuật lớn nhất sau khi đơn vị thuê tư vấn thẩm định giá.

Theo quy trình, kết quả tư vấn xác định giá trị tài sản tại thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, Thông tư 141/2025/TT-BTC và hệ thống phần mềm quản lý tài sản công hiện nay lại yêu cầu nhập liệu “Nguyên giá tại thời điểm đưa vào sử dụng”. Sự cập kênh này tạo ra sai lệch lớn khi phần mềm tự động áp dụng công thức tính hao mòn lũy kế dựa trên thời gian lịch sử - thứ vốn đã mất hồ sơ gốc hoặc không khớp với giá trị mua lại/tiếp nhận thực tế.

Hệ quả là đơn vị quản lý không thể “khớp số” giữa chứng thư thẩm định và sổ cái kế toán trên hệ thống chung khi nhập liệu vào hệ thống phần mềm quản lý tài sản công do số liệu tự động tính toán ngay từ khi nhập nguyên giá, số năm hao mòn, số năm đã sử dụng tạo ra giá trị sai lệch giá trị còn lại, cụ thể:

Đối với nhà, công trình vật kiến trúc thường được xác định nguyên giá tại thời điểm thẩm định giá hoặc máy móc thiết bị (ví dụ như ô tô) không thể xác định được nguyên giá mua mới tại thời điểm thẩm định giá trong khi Thông tư 141/2025/TT-BTC yêu cầu nguyên giá phải xác định tại thời điểm đưa vào sử dụng.

Việc nhập liệu giá trị mua lại (tài sản cũ) vào cột nguyên giá (tài sản mới) sẽ khiến công thức tính hao mòn tự động của phần mềm bị sai lệch hoàn toàn so với vòng đời thực tế còn lại của tài sản do số nhập liệu được tự động theo công thức:

Giá trị còn lại = (Nguyên giá tài sản tại thời điểm đưa vào sử dụng) x (Phần trăm tính khấu hao/hao mòn hàng năm) x (số năm còn lại)

Giá trị khấu hao/hao mòn = (Nguyên giá tài sản tại thời điểm đưa vào sử dụng) x (Phần trăm tính khấu hao/hao mòn hàng năm) x (số năm đã sử dụng)

Do đơn vị quản lý tài sản không thể can thiệp vào phần mềm chung để đổi số nguyên giá hay giá trị còn lại tại thời điểm thẩm định giá theo kết quả thẩm định giá, do đó đề xuất phương án “tháo chốt” dưới đây.

Phương án 1: cho phép áp dụng công thức quy đổi "Nguyên giá quy đổi" để đảm bảo tính liên tục của công tác kế toán, xin đề xuất cho ban hành công thức quy đổi nguyên giá từ giá trị còn lại được thẩm định giá tại thời điểm nhận bàn giao như sau:

Nguyên giá quy đổi = (Giá trị còn lại thực tế) x (Tổng thời gian sử dụng định mức) / (Thời gian sử dụng còn lại).

Đây là giải pháp kỹ thuật nhằm bắc cầu giữa kết quả thẩm định giá thực tế và logic tính toán của phần mềm quản lý tài sản công hiện nay, đảm bảo giá trị còn lại phản ánh đúng thực tế mà không làm sai lệch quy trình hạch toán.

Phương án 2: cho phép đơn vị sử dụng tài sản công được điều chỉnh số nguyên giá không dựa trên công thức trong phần mềm (có đánh dấu * kèm theo hồ sơ để người quản lý biết được lịch sử tài sản mà không phải giải trình)

Cách làm này giúp tài sản được "hợp pháp hóa" với một giá trị nguyên giá phù hợp trên sổ sách tại thời điểm đầu tư mà không phải tại thời điểm nhận bàn giao (thuê tư vấn thẩm định giá), từ đó cho phép đơn vị thực hiện trích hao mòn/khấu hao và lập dự toán sửa chữa đúng quy định.

Để hóa giải nút thắt này, cơ quan quản lý cần xem xét hai phương án: Một là, chấp nhận phương pháp hồi tố giá trị thông qua công thức quy đổi ngược để xác định nguyên giá tại thời điểm hình thành tài sản. Hai là, nâng cấp tính năng phần mềm quản lý tài sản công, cho phép ghi nhận biến động giá trị dựa trên kết quả đánh giá lại thực tế tại thời điểm tiếp nhận, thay vì bắt buộc tính toán dựa trên lịch sử đầu tư đã mất hồ sơ.

Thứ hai, vướng mắc về không tính khấu hao/hao mòn: quy định tại điểm c khoản 3 Điều 11 Thông tư 141/2025/TT-BTC cho thấy sự không thống nhất giữa các quy định không phải tính hao mòn, khấu hao đối với: “Tài sản cố định đã tính đủ hao mòn hoặc đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn còn sử dụng được (bao gồm cả tài sản cố định đơn vị sự nghiệp công lập được nhận sau khi hết thời hạn liên doanh, liên kết)”.

Sự không đồng bộ còn nằm ở cách hiểu về thời gian khấu hao. Thực tế, các đối tác LDLK thường khấu hao theo thời hạn hợp đồng (ví dụ 10 năm). Trong khi đó, khung thời gian hao mòn của nhà nước đối với tài sản cùng loại thường dài hơn (ví dụ 15 năm).

Nếu áp dụng cứng nhắc điểm c khoản 3 Điều 11 Thông tư 141 – ngừng tính hao mòn cho tài sản đã khấu hao hết từ phía đối tác – thì đơn vị SNCL sẽ mất đi 5 năm giá trị chi phí hợp lệ. Điều này không chỉ gây thiệt hại về nguồn trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp mà còn làm sai lệch hoàn toàn phương án tài chính khi đơn vị tái sử dụng tài sản này vào các Đề án cho thuê / LDLK chu kỳ tiếp theo.


Đề xuất quy trình thực hiện 3 bước cho cán bộ quản lý tài sản

Thông tư 141/2025/TT-BTC không hướng dẫn quy trình, mẫu biểu cụ thể dẫn đến việc thực hiện của cán bộ quản lý tài sản còn gặp nhiều lúng túng. Để hóa giải các rủi ro về quản lý tài sản công, quy trình tiếp nhận và xác lập giá trị tài sản cần được thực hiện qua các bước chuẩn hóa:

Bước 1: Kiểm kê và đánh giá thực trạng kỹ thuật thành lập hội đồng theo quy định tại Điều 5 Thông tư 141/2025/TT-BTC. Thành phần hội đồng phải bao gồm người đứng đầu đơn vị, bộ phận kế toán và đại diện chuyên môn kỹ thuật.

Bước 2: Thẩm định giá độc lập - lá chắn pháp lý hữu hiệu, thay vì thành lập hội đồng tự "ước lượng" giá trị, đơn vị SNCL nên thuê tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp. Chứng thư thẩm định giá về "Giá trị còn lại" là bằng chứng khách quan, độc lập nhất. Tuy nhiên, việc giao trách nhiệm cho hội đồng phải ước tính thời gian sử dụng còn lại còn khá đơn giản, khó thực hiện vì không có căn cứ trong trường hợp thời gian đã sử dụng của tài sản lớn hơn hoặc bằng với thời gian tính khấu hao/hao mòn tại Thông tư 141/2025/TT-BTC.

Bước 3: Quyết nghị và ghi sổ tăng tài sản. Hội đồng họp, thông qua kết quả thẩm định và ban hành biên bản định giá lại tài sản. Đây chính là "giấy khai sinh" để kế toán cập nhật vào phần mềm quản lý tài sản công quốc gia.

Khoảng trống pháp lý thường được nhắc đến trong bài toán tài sản hậu cho thuê/LDLK thực chất là sự thiếu tự tin trong khâu vận dụng quy định. Hệ thống văn bản mới từ Nghị định 186/2025/NĐ-CP đến Thông tư 141/2025/TT-BTC đã chuyển dịch từ cơ chế "trông chờ" sang cơ chế "phân cấp - tự chịu trách nhiệm" nhưng vẫn cần có hướng dẫn đủ chi tiết để đơn vị có căn cứ thực hiện.

Rủi ro pháp lý không nằm ở việc thực hiện sai, mà từ việc chưa có hướng dẫn cụ thể dẫn đến đơn vị phải tự mò mẫm thực hiện. Việc xác lập quyền sở hữu, xác định đúng giá trị tài sản không chỉ giúp đơn vị bảo toàn nguồn lực nhà nước mà còn là bước chuẩn bị sống còn để xây dựng các Đề án khai thác vòng đời tiếp theo của tài sản.

Chỉ khi có "giá trị gốc" chuẩn, giá dịch vụ (bao gồm chi phí khấu hao) mới được tính đúng, tính đủ, đảm bảo sự bền vững cho hoạt động của đơn vị SNCL, đảm bảo cho việc quản lý tài sản công được khai thác hiệu quả và minh bạch.

Link:

(VNF) - Theo quy định hiện hành về sử dụng tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập, các giá trị đầu tư của đối tác vào nhà đất theo Đề án sẽ thuộc về bên cho thuê (chuyển giao không bồi hoàn) hoặc nhận chuyển nhượng t...

Tham gia Hội nghị tập huấn pháp luật về Sở hữu trí tuệ phục vụ công tác thẩm định giá tổ chức tại Bộ Tài chính, số 8 Pha...
16/04/2026

Tham gia Hội nghị tập huấn pháp luật về Sở hữu trí tuệ phục vụ công tác thẩm định giá tổ chức tại Bộ Tài chính, số 8 Phan Huy Chú, TP Hà Nội ngày 16/6/2026

KIẾN THỨC CHUYÊN NGÀNH: THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC PHỤC VỤ CHUYỂN NHƯỢNG VỐN: NHỮNG "GÓC KHUẤT" CHÍNH SÁCH VÀ N...
25/03/2026

KIẾN THỨC CHUYÊN NGÀNH:

THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC PHỤC VỤ CHUYỂN NHƯỢNG VỐN: NHỮNG "GÓC KHUẤT" CHÍNH SÁCH VÀ NHẬN DIỆN RỦI RO NGHỀ NGHIỆP TỪ NGHỊ ĐỊNH 57/2026/NĐ-CP
Bài đăng trên Tạp chí Nhịp sống thị trường - Markettimes ngày 25/3/2026)

“Tính phức tạp của thẩm định giá doanh nghiệp hiện nay không chỉ nằm ở kỹ thuật tính toán, mà xuất phát từ sự 'lệch pha' giữa hệ thống Chuẩn mực thẩm định giá với các Luật chuyên ngành (Đất đai, Sở hữu trí tuệ, Quản lý vốn). Chính sự thiếu đồng bộ này đã tạo ra những 'bẫy' rủi ro pháp lý, đẩy Thẩm định viên vào thế tiến thoái lưỡng nan giữa tuân thủ quy trình và phản ánh đúng giá trị thị trường.”

Do nội dung bài viết khá dài, Tạp chí phải đăng thành 2 phần, nếu bạn đọc quan tâm xin đọc đầy đủ tại Link:

THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC PHỤC VỤ CHUYỂN NHƯỢNG VỐN: NHỮNG "GÓC KHUẤT" CHÍNH SÁCH VÀ NHẬN DIỆN RỦI RO NGHỀ NGHIỆP TỪ NGHỊ ĐỊNH 57/2026/NĐCP “Tính phức tạp của thẩm định giá doanh nghiệp hiện nay không chỉ nằm ở kỹ...

17/02/2026
Sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính: Gỡ nút thắt để người có thẩm quyền không còn "lúng túng" khi xác định giá trị tan...
20/01/2026

Sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính: Gỡ nút thắt để người có thẩm quyền không còn "lúng túng" khi xác định giá trị tang vật?

(Bài đăng trên Tạp chí Pháp luật và Phát triển thuộc Viện nghiên cứu Pháp luật và Kinh tế ASEAN, Hội Luật gia Việt Nam - Thứ ba, 20/01/2026)

(PLPT) - Việc xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (sau đây gọi tắt là tài sản) là khâu then chốt, trực tiếp quyết định thẩm quyền xử lý và khung tiền phạt. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành pháp luật hiện nay cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa Luật Xử lý vi phạm hành chính và Luật Giá 2023, dẫn đến những rủi ro pháp lý cho người có thẩm quyền. Bài viết này tập trung phân tích và kiến nghị hoàn thiện Điều 49 Dự thảo Luật sửa đổi nhằm đảm bảo tính thống nhất, minh bạch và khả thi.

1. Về trách nhiệm thẩm quyền quyết định giá

Tại khoản 1 Điều 49 Dự thảo quy định về Xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt hiện đang quy định: “Trong trường hợp cần xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt, người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải xác định giá trị tang vật, phương tiện và phải chịu trách nhiệm về việc xác định đó.”

Như vậy, Dự thảo quy định “phải xác định giá trị tang vật, phương tiện và phải chịu trách nhiệm về việc xác định đó” không quy định việc quyết định giá trị tài sản vi phạm phải được thực hiện dưới hình thức quyết định hành chính do người có thẩm quyền xử lý ban hành để làm căn cứ xác định thẩm quyền xử phạt, khung xử phạt.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 55 Luật Giá năm 2023 quy định Chứng thư thẩm định giá và báo cáo thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá: “Chứng thư thẩm định giá và báo cáo thẩm định giá được sử dụng làm một trong những cơ sở để khách hàng, tổ chức, cá nhân có liên quan được ghi tại hợp đồng thẩm định giá xem xét, quyết định hoặc phê duyệt giá của tài sản.”

Theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Giá năm 2023 quy định về Thông báo kết quả thẩm định giá và báo cáo thẩm định giá của hội đồng thẩm định giá Nhà nước như sau: “Thông báo kết quả thẩm định giá và báo cáo thẩm định giá của hội đồng thẩm định giá được sử dụng làm cơ sở để tham mưu cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét quyết định, phê duyệt giá theo quy định của pháp luật có liên quan.”

Như vậy, kết quả thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá hay Hội đồng thẩm định giá Nhà nước chỉ là một trong những cơ sở để người có thẩm quyền xem xét, quyết định giá chứ không thay thế cho quyết định của người xử lý vi phạm. Trong trường hợp này, Luật Xử phạt vi phạm hành chính cần luật hóa quy định rõ thủ tục ban hành quyết định giá tài sản vi phạm độc lập hoặc gộp chung trong quyết định xử phạt hành chính; Văn bản này đóng vai trò là chứng cứ nghiệp vụ trong hồ sơ, xác lập cơ sở pháp lý cho việc áp dụng khung phạt và xác định thẩm quyền, đảm bảo tính minh bạch trước khi ban hành Quyết định xử phạt chính thức.

Trường hợp giá trị tài sản trong Biên bản hoặc thông báo của hội đồng thẩm định giá hoặc chứng thư thẩm định giá thể hiện giá trị của tài sản vượt quá thẩm quyền xử lý, phải kịp thời hoàn thiện thủ tục chuyển hồ sơ cho cấp có đủ thẩm quyền xử lý theo quy định; Người có thẩm quyền xử lý tiếp theo nếu nhận thấy căn cứ định giá / thẩm định giá trong hồ sơ đảm bảo mức độ tin cậy, đúng quy trình thì được sử dụng các căn cứ định giá thể hiện trong hồ sơ để ban hành quyết định giá trị tài sản vi phạm.

Thực tế, nhiều tài sản vi phạm khi xác định được giá trị lại bị vượt thẩm quyền xử lý nên phải chuyển hồ sơ về đúng cấp xử lý nhưng hồ sơ chuyển không có thành phần thủ tục hành chính rõ ràng, việc xác định giá trị tài sản vi phạm ban đầu (nếu không đúng thẩm quyền) chỉ dừng lại ở kết quả định giá quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này, được gửi kèm theo hồ sơ chuyển cấp xử lý đúng thẩm quyền mà không cần ban hành quyết định phê duyệt giá tài sản vi phạm; cần có quy định được tiếp tục sử dụng kết quả định giá của giai đoạn trước hay không hay phải thực hiện định giá lại, …

2. Căn cứ định giá tài sản vi phạm

Việc định giá tài sản có giá trị lớn, phức tạp sẽ yêu cầu thời gian tối thiểu để thực hiện, Tuy nhiên tại khoản 2, khoản 3 Điều 49 của Dự thảo đang thể hiện quá tóm tắt và lẫn lộn, không rõ ràng quy trình này, nội dung sửa đổi cần quy định cụ thể hơn về trách nhiệm và trình tự xác định giá trị tang vật như sau:

Thứ nhất: Việc tuân thủ quy trình thẩm định giá tài sản vi phạm hành chính của Luật Giá thông qua Hội đồng là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo tính pháp lý, tuy nhiên cần có hướng dẫn về quy trình rút gọn đối với các vụ việc có tính chất khẩn cấp hoặc tang vật phổ biến, giá trị thấp. Cần quy định bắt buộc tạm giữ tang vật trong trường hợp tài sản vi phạm hành chính không thể quyết định giá tại thời điểm xử lý hoặc vụ việc phức tạp cần phải thực hiện đối chiếu, kiểm chứng với quy mô sản xuất thực tế. Việc tạm giữ là điều kiện tiên quyết để bảo toàn hiện trạng tài sản, phục vụ cho công tác định giá của Hội đồng hoặc tổ chức thẩm định giá diễn ra trong thời hạn luật định.

Thứ hai: Trong trường hợp người có thẩm quyền xử lý vi phạm nhận thấy các thông tin về giá trị tài sản vi phạm được cung cấp (bao gồm giá trong hợp đồng, hóa đơn, tờ khai nhập khẩu, giá thành, …) có đủ mức độ tin cậy hoặc sẵn có giá tài sản tương tự của cơ quan nhà nước ban hành có thể làm căn cứ để quyết định giá trị của tài sản vi phạm mà không cần quyết định tạm giữ tài sản vi phạm.

Không nên quy định lẫn việc sử dụng giá của chứng thư thẩm định giá vào phần này do về mặt thời gian xử lý (nếu chưa có quyết định tạm giữ) thì không thể đủ thời gian cung cấp kịp chứng thư thẩm định giá, trong khi không quy định đối tượng có trách nhiệm cung cấp chứng thư thẩm định giá trong thời gian ngắn này.

Cần bổ sung thêm trường hợp: Với tài sản vi phạm là thành phẩm chưa bán thì giá trị được xác định là giá thành; Đối với hàng hoà chưa hoàn thiện là tập hợp chi phí sản xuất hình thành đến thời điểm xử lý theo thông tin do người vi phạm cung cấp; Thông tin do người vi phạm cung cấp phải đi kèm hồ sơ kế toán hoặc chứng từ chứng minh chi phí thực tế phù hợp với tài sản xử lý vi phạm; Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn thông tin này chỉ áp dụng khi người có thẩm quyền đánh giá các thông tin này có độ tin cậy cao và không cần thiết phải đối chiếu trực tiếp với quy mô sản xuất thực tế tại hiện trường. Người cung cấp thông tin phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính chính xác của thông tin đã cung cấp.

Thứ ba: Trường hợp tài sản có giá trị lớn, nhiều loại hàng hóa phức tạp hoặc thông tin tài sản vi phạm được cung cấp không đủ mức độ tin cậy, Người có thẩm quyền xử lý vi phạm phải ban hành quyết định tạm giữ tài sản vi phạm để có thời gian thực hiện xác định giá trị tài sản vi phạm theo các trình tự tiếp theo.

Thời hạn tạm giữ để định giá không quá 10 ngày làm việc có thể dẫn đến không đủ thời gian thực hiện, cần tính đủ thời gian để thành lập Hội đồng, thuê tư vấn, thực hiện thẩm định giá theo quy trình của Chuẩn mực thẩm định giá thậm chí phải giám định chất lượng, nguồn gốc xuất xứ, họp thông qua kết quả, … Luật cần thêm thời gian để xử lý trong trường hợp tài sản phức tạp, giá trị lớn có thể không quá 30 ngày.

Tại khoản 2, khoản 3 Điều 49 của Dự thảo đang thể hiện quá tóm tắt và lẫn lộn quy trình này, nội dung Luật sửa đổi cần quy định cụ thể hơn về trách nhiệm và trình tự xác định giá trị tang vật trong các trường hợp cụ thể như sau:

- Trường hợp tài sản vi phạm không có một trong các căn cứ trên (tại khoản 1 Điều 49) hoặc người có thẩm quyền có quyền xử lý tài sản vi phạm nhận thấy các thông tin sẵn có này không đủ độ tin cậy, người có thẩm quyền có quyền xử lý tài sản vi phạm ra quyết định tạm giữ tài sản vi phạm và thành lập Hội đồng định giá theo quy định của Luật Giá để định giá tài sản làm căn cứ quyết định giá trị tài sản vi phạm, cụ thể:

+ Hội đồng gồm người ra quyết định tạm giữ làm Chủ tịch, đại diện cơ quan tài chính và cơ quan chuyên môn cùng cấp làm thành viên theo quy định của Luật Giá về thẩm định giá Nhà nước; Hội đồng có trách nhiệm thực hiện thẩm định giá tài sản theo đúng quy định của Luật Giá.

+ Hội đồng có quyền thuê tổ chức thẩm định giá độc lập thực hiện xác định giá trị thị trường của tài sản vi phạm; Căn cứ vào kết quả thẩm định giá, Hội đồng họp, lập biên bản họp và thông báo kết quả thẩm định giá để người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có cơ sở quyết định giá trị tài sản làm căn cứ áp dụng các quy định theo quy định.

Thứ tư: quy định về định giá, thẩm định giá tài sản vi phạm trong trường hợp đặc biệt. Theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam, việc thẩm định giá phải tìm được tài sản giống hệt hoặc tương tự; Tuy nhiên đối với hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng cấm sẽ không có thông tin thị trường hoặc không đủ căn cứ để điều chỉnh về tài sản vi phạm dẫn đến không tìm được doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thẩm định giá. Luật cần quy định mở, cho phép việc định giá, thẩm định giá Nhà nước, thẩm định viên có thể căn cứ vào các thông tin thị trường tương tự để có đủ căn cứ thực hiện định giá/thẩm định giá như sau:

+ Đối với hàng giả, hàng kém chất lượng: Áp dụng giá thị trường của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng, kỹ thuật tương đương tại nơi phát hiện vi phạm.

+ Đối với hàng cấm: Sử dụng giá thị trường của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng, kỹ thuật công dụng, có điều chỉnh các chi phí về địa điểm, thời điểm xử phạt.

3. Kinh phí thực hiện định giá

Cần có quy định chi phí cho hoạt động định giá, giám định chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ của tài sản vi phạm rõ ràng để kinh phí phục vụ hoạt động định giá tài sản, hỗ trợ cho người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính quyết định giá trị tài sản làm căn cứ xử phạt hành chính cụ thể như sau:

- Hằng năm, cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Luật này có trách nhiệm lập dự toán chi thường xuyên cho các hoạt động xử phạt hành chính theo mức độ, phạm vi được giao để chi trả cho hoạt động thẩm định giá tài sản vi phạm hành chính, Hội đồng thẩm định giá, thuê dịch vụ thẩm định giá, giám định chất lượng tài sản, giám định xuất xứ tài sản, …; Trường hợp phát sinh chi phí vượt dự toán được phép tạm thời sử dụng nguồn khác để phục vụ kịp thời quy định, yêu cầu của công việc và kịp thời lập dự toán bổ sung.

- Trường hợp tài sản vi phạm sau khi định giá vượt thẩm quyền xử lý thì được quyết toán tại cơ quan trực tiếp thuê định giá ban đầu; Hồ sơ định giá chuyển kèm theo hồ sơ xử lý vi phạm hành chính cho cơ quan đúng thẩm quyền.

Việc chuẩn hóa quy trình định giá tại Điều 49 của Dự thảo không chỉ giúp tháo gỡ điểm nghẽn về mặt nghiệp vụ cho cơ quan hành pháp mà còn đảm bảo sự thống nhất giữa các đạo luật chuyên ngành, đặc biệt là Luật Giá. Việc chuẩn hóa quy trình này không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là sự bảo vệ pháp lý cho người thực thi công vụ, giúp họ tự tin ra quyết định dựa trên các căn cứ khoa học và minh bạch.

Hy vọng những đóng góp mang tính thực tiễn này sẽ được Ban soạn thảo cân nhắc, giúp hoàn thiện khung pháp lý về xử lý vi phạm hành chính, từ đó nâng cao tính nghiêm minh và hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước trong giai đoạn tới.

Ngô Gia Cường - Giám đốc Công ty TNHH Thẩm định giá và Giám định Việt Nam (VAI)

Link bài đăng:

(PLPT) - Việc xác định giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (sau đây gọi tắt là tài sản) là khâu then chốt, trực tiếp quyết định thẩm quyền xử lý và khung tiền phạt. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành pháp luật hiện nay cho th.....

THÔNG TIN CHÍNH SÁCH MỚINgày 06/01/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 66.11/2026/NQ-CP về quy định xử lý khó khăn...
09/01/2026

THÔNG TIN CHÍNH SÁCH MỚI

Ngày 06/01/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 66.11/2026/NQ-CP về quy định xử lý khó khăn, vướng mắc về đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở theo quy định của Luật Đất đai. Theo đó tăng tỷ lệ thu số tiền đặt trước trong đấu giá QSD đất và quy định mức phạt cấm tham gia đấu giá trong trường hợp không nộp hoặc không nộp đầy đủ tiền trúng đấu giá, cụ thể như sau:

Điều 2. Tiền đặt trước tham gia đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở cho cá nhân

Trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở cho cá nhân theo quy định của Luật Đất đai thì tiền đặt trước tối thiểu là mười phần trăm và tối đa là năm mươi phần trăm giá khởi điểm.

"Điều 3. Xử lý vi phạm đối với người trúng đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở

1. Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất ở vi phạm nghĩa vụ nộp tiền trúng đấu giá quyền sử dụng đất dẫn đến quyết định công nhận kết quả đấu giá bị hủy, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm thì bị cấm tham gia đấu giá đối với quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở như sau:

a) Từ 02 năm đến 05 năm đối với trường hợp người trúng đấu giá không nộp tiền trúng đấu giá;

b) Từ 06 tháng đến 03 năm đối với trường hợp người trúng đấu giá nộp không đầy đủ tiền trúng đấu giá."

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06/01/2026 đến hết ngày 28/02/2027

Address

Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công ty TNHH Thẩm định giá VAI posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Công ty TNHH Thẩm định giá VAI:

Shortcuts

Share