Du Lịch Miền Đất Mới

Du Lịch Miền Đất Mới Chia sẻ trao đổi thông tin về các vấn đề liên quan đến hướng dẫn du lịch.

Hoành phi sơn son thếp vàng...Ai có nhu cầu vui lòng ib ạ:))) Hoặc gọi: 0974059914
30/03/2018

Hoành phi sơn son thếp vàng...
Ai có nhu cầu vui lòng ib ạ
:))) Hoặc gọi: 0974059914

‼️‼️Có thể bạn chưa biết đến làng Nghề Sơn Đồng:  Là 1 làng cổ của mảnh đất trăm nghề Hà Tây với truyền thống hình thành...
03/02/2018

‼️‼️Có thể bạn chưa biết đến làng Nghề Sơn Đồng:
Là 1 làng cổ của mảnh đất trăm nghề Hà Tây với truyền thống hình thành tới nay đã hơn 1000 năm .
Sản phẩm của làng nghề Sơn Đồng chuyên về:
✔️Tượng ( Phật)
✔️Đồ thờ (Bàn, ngai, câu đối, hoành phi) sơn son thếp vàng, thếp bạc,
phục vụ đời sống văn hoá tâm linh, tín ngưỡng.

➕Nghề sơn, tạc tượng thờ – nghề đã tạo nên cho làng quê Sơn Đồng biết bao nghệ nhân có đôi tay tài hoa, được vua Khải Định ban thưởng, được người Pháp phong tặng danh hiệu nghệ nhân.

Làng nghề Sơn Đồng đã được chọn là một trong 5 làng nghề tiêu biểu được rước Tổ nghề vào nội đô mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội năm 2010.

Mọi thông tin về sản phẩm xin vui lòng LH: 📞0936337457- 0969863801📞
‼️‼️‼️

Tại sao Ông Địa luôn cười?😁😁😁😁😁Trong tiềm thức của người dân Nam Bộ thì Ông Địa luôn được coi là một phúc thần ngoài việ...
12/09/2017

Tại sao Ông Địa luôn cười?
😁😁😁😁😁
Trong tiềm thức của người dân Nam Bộ thì Ông Địa luôn được coi là một phúc thần ngoài việc bảo hộ ruộng vườn, đất đai thì còn có vai trò trong việc đưa đón Thần Tài tới nhà tức là giúp cho gia đình đó được phát tài, còn kiêm cả việc phù hộ gia chủ của gia đình bệnh tình mau lành hay tìm lại được đồ mất. Vì thế nên vào sáng sớm, lúc mở cửa tiệm hay cửa nhà thì gia chủ thường tặng thưởng cho Ông Địa điếu thuốc để trên tay cùng với ly cà phê bên cạnh. Thậm chí nhiều khi còn có thêm bánh bao hay thịt heo quay… Tín ngưỡng của dân gian coi việc thờ cúng Ông Địa là mong được buôn may bán đắt. Nhưng thực ra theo truyền thuyết trong tôn giáo ở Á Đông thì Ông Địa là một vị thần chịu trách nhiệm cai quản địa phương, cũng có thể là vị thần nhận việc bảo hộ cho các gia đình. Nếu được thăng cấp thì Ông Địa sẽ là thần bảo hộ cho người hiền lành, lương thiện hoặc các bậc tu hành khi họ cứu thế độ dân. Nếu theo những nghĩa này thì có thể thấy Ông Địa là vị thần mang theo sứ mạng tâm linh.
Sự tích Ông Địa
Trong đời sống trước đây của dân tộc Việt thì phần lớn dựa vào nông nghiệp, mà nông nghiệp thì lại phụ thuộc rất nhiều các điều kiện tự nhiên như đất đai, thời tiết, khí hậu… trong đó có thể nói đất đai được xem là yếu tố cơ bản cấu tạo nên vạn vật giúp cho người ta có được cuộc sống ấm no và sung túc. Vì vậy thần Đất hay Thổ Điạ là một trong những vị thần được cư dân nông nghiệp luôn để tâm đến trước nhất. Như chúng ta đã biết Nam Bộ là một vùng đất mới vẫn còn là một vùng đầm lầy là nơi rừng hoang cỏ rậm, thú dữ tràn đầy… Mọi thứ ở đây hoàn toàn lạ lẫm đối với họ, từ tiếng chim kêu đến tiếp cọp rống đều gây cho họ một cảm giác lo sợ. Người dân lúc đó nghĩ vùng đất Nam Bộ này từ khu rừng, con sông, vùng đất… đâu đâu cũng có các vị thần cai quản. Để được yên ổn làm ăn thì họ phải khấn vái cho các thần để các thần phù hộ cho họ có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc và bình an. Chính vì vậy mà Thổ Địa luôn được họ tôn thờ. Họ xem Thổ Địa như là một vị thần bảo hộ cho một mảnh vườn, thửa ruộng của họ…Về hình tượng Ông Địa ở Nam Bộ thì dù là tượng hay tranh vẽ đều là một người trung niên mập mạp, bụng bự, vú lớn và miệng luôn cười hể hả, tay cầm quạt mang đầy chất phong thịnh. Và nó cũng mang sự hài hước. Đây cũng là một đặc trưng trong tính cách của người Nam Bộ.
Tại sao nên thờ Ông Địa
Ông Địa có thân hình khá mập mạp và khuôn miệng luôn cười tươi tương tự như Phật Di Lặc. Người ta thường thờ Ông Địa vì nhìn ông gần gũi hơn với người nông dân. Được mọi người thờ cúng để cầu mong được mùa, gặp nhiều thuận lợi trên con đường làm ăn buôn bán. Trước đây thì người ta thường chỉ thờ Ông Địa vào những dịp tết chứ không thờ thường xuyên như bây giờ. Nhưng ngày nay, khi phong thủy trở nên phổ biến thì hầu hết các cơ sở kinh doanh buôn bán đều thờ vị thần này để mong gặp được những điều may mắn, tốt lành, làm nông thì được mùa còn kinh doanh, buôn bán thì luôn buôn may bán đất. Đây là lý do vì sao mà vị thần này được thờ nhiều ở nước ta.
Nụ cười ô địa thể hiện cho điều gì?
Có câu chuyện cười trong dân gian kể rằng có người lái buôn nọ nhiều lần gạt ông Địa, vì ông Địa vốn rất dễ dãi và dễ bị châm chọc. Hôm đầu tiên bắt đầu đi buôn, anh ta vái xin ông Địa thương mà phù hộ cho trót lọt thì sẽ cúng ông Địa con 2 chân. Nghe qua, ông Địa tưởng là sẽ được cúng con gà, con vịt. Nhưng rồi sau đó anh ta lật kèo hẹn lần sau nếu làm ăn thuận lợi sẽ cúng con 4 chân. Nhưng rồi con 4 chân anh ta cũng không cúng, mà tiếp tục hẹn lần sau. Lần này anh ta không khất nữa, mà cúng thiệt con 8 chân, đó là con… cua luộc. Thấy mình thua trí gã lái buôn vì vậy lúc nào ông Địa cũng cười. Chỉ cười thôi chớ chẳng giận hờn ai. Hình tượng ông Địa trong dân gian rất đa dạng. Đầu tiên là các ông Địa được người dân tưởng tượng ra và nắn bằng đất sét để thờ. Nghĩ sao nắn vậy, thô sơ không ông nào giống ông nào nhưng nhiều ông Địa rất độc đáo. Dù là Địa trong múa Lân hay Địa trong chặp bóng tuồng Địa tất thảy đều vui vẻ đặc trưng là nụ cười. Ngày xưa tượng ông Địa không sản xuất hàng loạt theo kiểu đúc khuôn mà là được nặn tay bằng đất sét, hoặc đục đẽo bằng gỗ hay tô đắp bằng vữa hồ. Mỗi tượng một vẻ và cái đẹp là nụ cười với miệng rộng hoác đến mang tai. Dù tượng làm bằng nhiều chất liệu khác nhau từ đất sét, gốm đất nung sơn màu đến gốm sứ men màu thì việc trau chuốt cái miệng cười của Địa sao cho có duyên luôn là yêu cầu quan trọng đối với nghề làm tượng Địa. Nụ cười Ông Địa bắt đầu từ tín lý đất thuộc hành Thổ một hành luôn có chức năng điều hòa các hành khác. Theo đó Thổ Địa là vị thần chỉ có chức năng ban phước đem tài lộc cho gia chủ mà hầu như không bao giờ giáng họa cho một ai. Thậm chí, sau một vài hôm cúng kiếng tử tế mà buôn bán cứ ế ẩm thì tín đồ của Địa múc một thau nước và lấy tượng Địa trấn nước một hồi để cho Địa biết điều mà tích cực siêng năng hơn trong việc phù hộ cho gia chủ.
Thờ thổ địa trong văn hóa phật giáo
Trong kinh điển của đức Phật để lại thì chưa thấy nhắc đến danh xưng của các vị thần này. Nhưng ngoài chư Phật, Bồ tát trong giáo lý Phật đà cũng có nhắc đến các vị chư Thiên, La -sát với những nhiệm vụ khác nhau.Có vị ủng hộ thọ mạng của con người, có vị chăm nom tài sản, con cái, nhà cửa, đường sá, có vị góp phần hưng long Chánh pháp làm cho Phật pháp được trường tồn… Điều này được ghi rõ trong kinh điển Đại thừa. Vì thế đối với các vị thần có tên ông Địa hay thần Tài có thể là những vị thiện thần có năng lực trợ giúp cho cuộc sống của con người. Nếu như thờ Thần Tài mà có thể phù hộ cho mình được giàu có tiền tài dư thừa thì chắc chắn mấy nhà sản xuất ông Thần Tài chắc là họ phải giàu to cần gì phải khổ cực kiếm tiền mỗi ngày. Nói thế để Phật tử thấy rằng tuy có những người này đã quy y Tam Bảo nhưng có thể do họ có lòng tin Tam Bảo và tin nhân quả không được vững chắc. Đây cũng là bệnh chung của đa số Phật tử chưa có đủ niềm tin nơi Tam Bảo và lý nhân quả nên mới có tình trạng thờ ông này ông kia. Tuy nói như vậy nhưng với Phật giáo trong một chừng mực nào đó nếu như sự hiện diện của chư vị ấy trong nhà làm cho ta có cảm giác bình yên, thanh thản thì Phật giáo không cứng nhắc cản ngăn. Vì thế nếu từ trước đến nay, nhà nào chưa hề và chưa bao giờ thờ vị thần này mặc dù vẫn tin tưởng oai lực của chư vị thiện thần hộ pháp thì cũng không nên miễn cưỡng thờ tự.
Ngày xưa Ông Địa được thờ cúng vào những ngày Tết. Tuy nhiên hiện nay đa phần các gia đình làm kinh doanh, buôn bán thường thờ cúng chu đáo cho ông mỗi ngày với mong muốn được thần phù hộ cho việc kinh doanh thuận lợi, buôn may bán đắt làm ăn phát đạt và thịnh vượng. Hình tượng ông Địa rất đa dạng có hàng trăm ông Địa nhưng rất khó tìm được ông Địa giống nhau. Có nhiều tượng ông Địa rất xưa nhưng không đẹp. Ông Địa đẹp có trong dân gian nhưng rất hiếm vì không làm theo khuôn đúc nên chỉ độc bản. Đa số ông Địa đều cười. Ngoài ra, tượng ông Địa bằng đồng cũng là loại hiếm ngày xưa chỉ có ở các ngôi chùa. Khi đúc tượng Phật còn dư đồng thì các chùa đúc thêm tượng ông Địa.
----------------ST-----------------------
HỌC CHỨNG CHỈ NGHIỆP VỤ HDV ĐIỀU KIỆN XIN CẤP THẺ - HỖ TRỢ XIN THẺ HDV QUỐC TẾ, NỘI ĐỊA TOÀN QUỐC.
lh: 0964174400

Bắc Đế Trấn Vũ ở Chùa Cầu - Hội An😴😴😴😴😴Bắc Đế Trấn Vũ còn được gọi Huyền Vũ Thánh Quân, Chân Vũ Thánh Quân, Bắc Cực Hữu ...
07/09/2017

Bắc Đế Trấn Vũ ở Chùa Cầu - Hội An
😴😴😴😴😴
Bắc Đế Trấn Vũ còn được gọi Huyền Vũ Thánh Quân, Chân Vũ Thánh Quân, Bắc Cực Hữu Thánh Chân Nhân, là một trong những vị Thần lớn được tôn sùng trong Đạo giáo của Trung Quốc. Từ thời cổ, người ta đặt ra Thượng đế là Chúa tể của trời và của thế giới. Dưới Thượng đế còn có năm vị chúa, mỗi vị làm chủ một vùng trời, và các vị này được gọi tên với màu sắc tương ứng với hướng cai quản của mình. Màu xanh còn gọi là Thanh đế, cai quản vùng trời ở hướng Đông của thế giới; màu đỏ gọi là Xích đế, cai quản vùng trời ở hướng Nam; màu đen còn gọi là Huyền đế, làm chủ vùng trời phương Bắc; màu trắng gọi là Bạch đế cai quản vùng trời phía Tây; còn màu vàng gọi là Hoàng đế nằm ở Trung tâm. Về sau, trong tín ngưỡng dân gian, Huyền đế - vị thần ở hướng Bắc đã tồn tại dưới một hình thức mới, ngài cai quản phần phía Bắc của trời và của thế giới, đồng thời ngài cũng cai quản cả Thủy trong Ngũ hành (Kim, Mộc, Thổ, Thủy, Hỏa) và xua đuổi tà ma.
Ở Hội An, Huyền đế (tức Bắc Đế Trấn Vũ) được người Hoa thờ trang trọng tại di tích Chùa Cầu. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo, gồm hai cá thể kiến trúc: Cầu và Chùa, được xây dựng bắt ngang qua một lạch nước rộng gần 10m nối liền hai phố Trần Phú và Nguyễn Thị Minh Khai, thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Tương truyền, chiếc Cầu do người Nhật cất lên vào đầu thế kỷ XVII, còn ngôi Chùa do người Minh Hương xây dựng vào năm 1653 để thờ Bắc Đế Trấn Vũ. Tại đây, Bắc Đế Trấn Vũ được thờ ở vị trí trung tâm của chánh điện. Tượng của ngài được tạc bằng gỗ mít, không sơn màu, cao 0,5m, phong thái uy nghi, khuôn mặt vuông vức nghiêm nghị, ngực ưỡn về phía trước, đầu đội mũ, chân để trần, thân mặc một chiếc áo dài buông xuống sát đất, bên ngoài mặc một chiếc áo giáp có trang trí hoa văn tinh sảo và nơi bụng có đeo một vòng đai. Nhiều thế kỷ trôi qua, bức tượng được tạc bằng gỗ mít, lại nằm trên một lạch nước, hằng năm phải hứng chịu bão lụt thường xuyên ở Hội An, cộng thêm các loài côn trùng gặm nhấm làm hư hại một số mảng ở trên thân tượng. Để bảo tồn bức tượng, ngành bảo tồn ở Hội An đã phục chế một bức tượng khác để thờ tự tại Chùa Cầu, còn bức tượng gốc được đưa về trưng bày và bảo quản tại Nhà trưng bày truyền thống lịch sử - văn hóa Hội An. Bức tượng phục chế có một số điểm khác so với bức tượng gốc của di tích. Tượng Bắc Đế Trấn Vũ phục chế được sơn màu, thể hiện rõ nét những màu sắc tương ứng với chi tiết trên thân tượng. Bắc Đế Trấn Vũ cũng đứng với phong thái uy nghi, tóc dài buông xõa, đầu đội mủ vàng nạm ngọc, râu năm chòm phất phơ bay, áo dài màu xanh buông sát đất, ngoài mặt áo giáp, chân không giày dép, đứng trên lưng của một con rùa có rắn quấn quanh, hai tay cầm thanh bảo kiếm đang trong tư thế ấn xuống mặt biển, mặt biển là một trôn đế hình tròn, thể hiện sóng nước đang cuộn dâng.
Tượng Bắc Đế Trấn Vũ được tạc dựa theo hình vẽ mà người ta tương truyền vào năm 1118, Hoàng đế Tống Huệ Tông (Trung Quốc) sai đạo sĩ Lâm Linh Tố lập đàn, làm phép mời Bắc Đế Trấn Vũ hiện thân. Lễ cầu ngài được tổ chức vào giữa trưa ngay trong cung điện. Vào giữa buổi lễ, trời đất tối sầm lại bỗng xuất hiện một con rùa và một con rắn, Tống Huệ Tông bèn cúi lạy, dâng hương mong Thần hạ cố hiện nguyên hình thật. Bỗng một luồng sấm sét xuất hiện, người ta nhìn thấy một bàn chân khổng lồ hiện ra trước cổng cung điện, Hoàng đế cúi lạy và lúc này Thần hiện nguyên hình là một người cao lớn hơn 10 thước, khuôn mặt nghiêm nghị, có hào quang bao quanh, tóc buông xuống lưng, chân để trần, ngài mặc một chiếc áo đen buông sát đất, ống tay áo rộng, bên ngoài có áo giáp vàng với đai lưng ngọc, trên tay cầm một thanh gươm, ngài đứng một lát rồi biến mất. Tống Huệ Tông là một vị vua nổi tiếng về hội họa, lập tức ông vẽ lại chân dung ngài. Về sau, chân dung này là hình mẫu dùng để vẽ cho những nơi có điện thờ Bắc Đế Trấn Vũ.
Bức tượng của Bắc Đế không mang giày dép, chân đạp rùa rắn, được lý giải theo nhiều cách khác nhau. Một số người cho rằng, con rùa và con rắn chính là những thiên tướng trên trời, dưới quyền cai quản của ngài. Còn một số người lại cho rằng con rùa và con rắn đó, chính là những con quỷ thù địch, đã bị ngài đánh bại và chà dưới chân. Mà thực ra, con rùa và con rắn đó chính là hình thức đầu tiên của Thần. Người ta đã thấy nó xuất hiện từ thời Hán, khi mà người ta phân chia ra các phương cai trị của thần linh. Lúc đó, rùa rắn màu đen làm chủ phương Bắc; còn chim đỏ ở phương Nam; hổ trắng tượng trưng cho phía Tây và rồng lục tượng trưng cho phía Đông của thế giới. Còn hình người thì về sau này người ta mới thấy xuất hiện.
Còn hình ảnh “Bắc Đế Trấn Vũ chân không giày dép, đứng trên hai con rùa và rằn” thì như chúng ta đã biết, vào đời nhà Minh, Đạo giáo ở Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, người ta đã thêu dệt nên những câu chuyện huyền thoại về thân thế và việc tu đạo của ngài. Người ta cho rằng, ngài là linh hồn của Ngọc Hoàng thượng đế hóa thân xuống trần gian để tu đạo. Ngài đã bốn lần hóa kiếp người và tu ở bốn nước khác nhau (một lần ở núi Linh Thứu, hai lần ở núi Bồng Lai và lần thứ tư ở nước Tịnh Lạc). Trong ba lần đầu, ngài chưa đủ trí lực để điều khiển các thiên tướng dưới trướng, cũng như chưa đủ phép thuật để hàng ma phục yêu, nên lần thứ tư ngài lại xuống trần gian đầu thai làm Thái tử của nước Tịnh Lạc. Khi vừa sinh ra, được 9 con rồng phun nước cho ngài tắm. Khi lớn lên, thái tử rất thông minh, tinh thông võ nghệ. Đến năm 14 tuổi, thái tử dứt bỏ cuộc sống nơi hoàng cung, tìm đến núi Vũ Đang tu đạo.
Suốt 42 năm, ngài một mình ngồi trên phiến đá tập trung trí lực, chăm chú tu luyện. Ngài không ăn cơm, không uống nước, làm cho dạ dày và ruột đói cồn cào, nên chúng cứ sinh sự, cãi vã nhau, làm cho ngài không thể ngồi yên. Ngài liền mổ bụng, móc hết dạ dày và ruột ném xuống đống cỏ sau lưng. Ở trong đống cỏ, dạ dày và ruột ngày đêm nhìn ngài tu luyện, ngài đã trở thành một con người thần thông quảng đại, biến hóa khôn lường. Một hôm, ruột bỗng chui vào ống quần ngài và biến thành một con rắn lớn, toàn thân mang đầy vẩy rồng. Còn dạ dày thì nắm lấy giày của ngài, khoát lên lưng, lăn ba vòng và biến thành một con rùa đen, có mai cứng như sắt. Từ đó ngài không còn giày để mang, mà phải đi chân đất. Rùa và rắn bò xuống núi, chúng ra sức ăn thịt gà, lợn, trâu, bò, dê và cả con người dưới chân núi Vũ Đang. Nhìn thấy cảnh tượng như vậy, ngài liền cưỡi mây, đạp gió, khoát bảo kiếm đi thu phục chúng. Cuộc chiến diễn ra vô cùng khốc liệt, cuối cùng rùa, rắn bị ngài dùng phép thuật đè dưới chân mình. Lúc này bọn chúng van xin ngài tha mạng. Ngài qui thuận và thu phục chúng làm hai tướng của mình.
Bắc Đế Trấn Vũ là vị Thần chiếm vị trí quan trọng trong tín ngưỡng của người Hoa. Hình ảnh của Bắc Đế được thờ tự rất nhiều nơi trên đất nước ta. Ở Hà Nội, việc thờ Bắc Đế gắn liền với công cuộc chống ngoại xâm của dân tộc ta; bên cạnh đó Ngài còn hiển linh giúp chính quyền phong kiến trừ diệt yêu ma, yên ổn trong quá trình xây dựng các công trình kiến trúc thành quách, dinh thự. Còn ở khu vực Nam bộ, Bắc Đế được thờ ở rất nhiều địa phương của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bởi nhiều thế kỷ trước, nơi đây còn hoang vu, lầy lội, là nơi chứa đựng nhiều huyền bí,… nên những lưu dân luôn có cảm giác sợ hãi trước thiên nhiên, họ đặt niềm tin vào các đấng Thần linh, mà điển hình là Bắc Đế Trấn Vũ - vị Thần có khả năng chế ngự yêu ma, khống chế cả những cơn lũ kinh hoàng, và cả muôn thú dữ tợn của miền đất này.
Còn ở Hội An, việc thờ tự Bắc Đế gắn liền với việc trị thủy, vì khu phố cổ Hội An nằm trên nền địa chất có nguồn gốc biển gió của vùng đất bồi hạ lưu sông Thu Bồn. Đây là một vùng đất mà địa chất có nhiều biến động, và được bao quanh bởi các con sông. Trong khi đó, sông Thu Bồn là con sông có lượng nước lớn nhất miền Trung, lại nằm gần một trong những trung tâm mưa lớn của cả nước. Hàng năm, sông Thu Bồn đổ ra biển khoảng 20km3 nước, do lượng nước lớn dồn dập trong một thời gian ngắn, cửa sông lại hẹp, làm cho bờ sông có lúc lở lúc bồi, lúc bị cắt xé từng mảng trong mùa mưa lũ. Ở Hội An, từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch thường xảy ra lũ lụt. Mỗi năm, Hội An phải hứng chịu rất nhiều đợt lũ kèm theo giông bão, mỗi khi lũ dâng, những dãy nhà ven sông thường ngập chìm trong biển nước, phải đến 3 - 4 ngày sau, thậm chí cả tuần nước mới rút. Giáo sĩ dòng Tên, người Ý là Cristophoro Borri có mặt ở Quảng Nam thế kỷ XVII, nhận xét: “…những cơn mưa liên tục từ trên triền núi cao, các dòng nước tuôn trào tràn ngập Vương quốc chảy ra đến tận biển…”.
Chính vì điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt ở Hội An, nên những cư dân ở đây không có khả năng chống đỡ trước sự tàn phá của tự nhiên. Kể từ khi đến Hội An, những thương nhân người Hoa đã trải qua những chặng đường đầy gian nan vất vả, đến vùng đất mới lại có nhiều biến động về địa chất, đối đầu với thiên nhiên khắc nghiệt càng làm cho họ thêm lo sợ, nên họ đặt niềm tin của mình vào một thế lực siêu nhiên, có khả năng ngăn chặn triều cường, điều hoà phong thổ, giúp họ thuận lợi trong việc ăn, ở và buôn bán. Do đó, họ thờ Bắc Đế Trấn Vũ làm chỗ dựa về mặt tinh thần của mình trong quá trình định cư tại vùng đất mới, giúp họ yên lòng vượt qua những khó khăn và có thêm niềm tin trong công cuộc mưu sinh.
--------------------------------------------------------------
Tín ngưỡng thờ Bắc Đế tại Chùa Cầu chứa đựng nhiều giá trị độc đáo. Nó thể hiện cho thời kỳ Đạo giáo phát triển mạnh mẽ ở Trung Quốc và lan tỏa ra nhiều quốc gia trên thế giới, ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống của người dân. Khi con người xuôi tay, bất lực trước những tai họa của thiên nhiên, họ không thể tự cứu rỗi mình, nên phải dựa vào một lực lượng siêu nhiên là các vị Thần linh. Trong đó, Bắc Đế Trấn Vũ là vị Thần có khả năng trị thủy, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi những cơn địa chấn diễn ra ở Hội An, ổn định về mặc phong thổ, giúp cho cư dân làm ăn buôn bán được thuận buồm xuôi gió. Trước đây, cộng đồng người Minh Hương ở Hội An thường tổ chức lễ cúng Long Chu vào ngày 20 tháng 7 âm lịch hàng năm. Lễ cúng được tổ chức thành một đám rước thuyền rồng lôi cuốn đông đảo người dân tham dự, kéo dài qua nhiều ngả phố, trong tiếng nhạc bát âm, tiếng kèn, trống rất rộn ràng, nhằm tôn vinh quyền uy của Bắc Đế Trấn Vũ. Alber Sallet – một tác giả người Pháp, đã viết về lễ hội Long Chu ở Chùa Cầu trước đây: “Lễ hội theo tập tục đó tiến hành ngày 20 tháng 7 âm lịch. Lễ hội diễn hành náo nhiệt. Trong quá trình diễn ra lễ hội đó, một chiếc thuyền bằng hàng mã lớn được trình bày ra với đủ buồm lái. Nó được đốt đi sau khi kết thúc lễ hội”. Hiện nay tại Chùa Cầu, vào các ngày rằm, ngày mồng một, ngày tết,… cư dân Hội An đến thắp nhang trước tượng Bắc Đế, người ta chỉ làm vậy là đủ, là thể hiện sự tôn trọng, sùng bái và cầu mong sự che chở của Thần.
HỌC CHỨNG CHỈ NGHIỆP VỤ - HỖ TRỢ XIN THẺ HDV QUỐC TẾ, NỘI ĐỊA TOÀN QUỐC.

Khu di tích Pác BóXin chào cô và các bạn, hôm nay tôi sẽ dẫn các bạn ra miền Bắc thăm 1 trong 13 di tích lịch sử quốc gi...
06/09/2017

Khu di tích Pác Bó
Xin chào cô và các bạn, hôm nay tôi sẽ dẫn các bạn ra miền Bắc thăm 1 trong 13 di tích lịch sử quốc gia đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận ngày 10/5/2012 (Quyết định số 548/QĐ-TTG). Đó là khu di tích Pác Bó thuộc tỉnh Cao Bằng. Một nơi không khí trong lành, se se lạnh của thời tiết miền núi, nơi đây không chỉ có những cảnh quan đẹp không thôi, mà các bạn còn biết rõ hơn về nơi được xem như là cuội nguồn của cách mạng Việt Nam qua bài thuyết trình về khu di tích này. Hy vọng các bạn chú ý lắng nghe để bổ sung thêm kiến thức chưa được biết.
Vị trí
Khu di tích Pác Bó là một khu di tích lịch sử cách mạng quốc gia – đặc biệt của Việt Nam, thuộc bản Pác Bó xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, cách thành phố Cao Bằng 55 km về phía Bắc.
Pác Bó được coi là cái nôi của cách mạng Việt Nam và địa danh này gắn bó thân thiết với cuộc đời hoạt động cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có di tích lịch sử núi Các Mác, suối Lê Nin do Người đặt tên cùng những bài thơ do Người sáng tác ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên vùng đất “đầu nguồn” và niềm tin vào tương lai tươi sáng của cách mạng:
“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê Nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”
Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, ngày 28 tháng 01 năm 1941, qua cột mốc biên giới số 108, Bác đã trở về tổ quốc để trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Bác cùng với 5 đồng chí khác ở tại nhà ông Lý Quốc Súng. Đây là một gia đình người Việt gốc Hoa, sống cách hang Cốc Bó khoảng 100m. Câu chuyện ngày đầu tiên Bác về nước vẫn còn được lưu truyền rất phổ biến ở nơi đây. Số là, sau cái đêm đầu tiên nghỉ lại tại nhà một đồng bào Nùng có cảm tình với cách mạng. Hôm sau Máy Lỳ (người chủ nhà) dẫn Bác và mấy đồng chí vừa về nước, theo một con đường nhỏ chạy ngoằn ngoèo qua rừng, lên một ngọn núi đá. Từ bờ suối trèo lên phải qua một đoạn dốc khá dài, cây cối rậm rạp thì mới lên tới cửa hang. Hang không rộng lắm, có hai ba ngách nhỏ. Gần đấy, một con suối nhỏ chảy quanh các tảng đá, rồi đổ xuống phía dưới, tung những bọt nước trắng xóa. Máy Lỳ bảo: “Ở đây mọi người gọi hang này là Cốc Bó, có nghĩa là đầu nguồn!”. Sau đó vài ngày Bác đề nghị các đồng chí chuyển sang hang Cốc Bó. Tại đây, Người đã dùng than củi viết lên vách hang dòng chữ Hán để đánh dấu ngày Bác chuyển từ nhà ông Súng lên hang Cốc Bó “Nhất cửu tứ nhất niên nhị nguyệt bát nhật”, tức “ngày mùng 8 tháng 2 năm 1941”.
Tại Pác Bó, Bác tự sắp xếp nơi nằm nghỉ, chỗ nấu cơm, nơi câu cá lúc nhàn rỗi, chỗ đun nước uống mà chè là lá cây ổi, kê bàn đá mộc mạc tự nhiên để dịch lịch sử cách mạng Liên Xô làm tài liệu huấn luyện cán bộ cách mạng:
“Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Ðảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang”.
Ở Pác Bó, lúc thì người dân gọi Bác là Già Thu, khi lại gọi là ông Ké. Ông Ké theo tiếng địa phương, chỉ người già, là cái tên mà bà con nơi đây gọi Bác với sự tôn kính nhưng lại hàm chứa sự gần gũi, mộc mạc, giản dị của Người. Ngày ấy, ông Ké, Già Thu trong bộ quần áo nâu của người dân tộc Nùng hòa mình vào với cuộc sống của đồng bào các dân tộc và cảnh vật nơi đây một cách tự nhiên. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nói: “Từ trang phục đến lời nói, việc làm, lúc thổi cơm, ngồi câu cá, khi tắm suối, ngủ rừng… Bác hòa hợp với tất cả mọi người. Không thấy một nét gì khác lạ, cách biệt, ở một người vốn là đại diện của quốc tế cộng sản, từng tiếp xúc với nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng trên thế giới…”.
Giai đoạn lịch sử
Ở hang Cốc Bó hơn một tháng, Bác cho cán bộ chuyển cơ quan sang lán Khuổi Nặm. Tại đây, Người đã có nhiều chủ trương và quyết định quan trọng cho cách mạng tháng 8 năm 1945: Chủ trì hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng từ 10/05 đến 19/05/1941, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng nước ta, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, biên soạn các tài liệu cách mạng, tổ chức các lớp tập huấn chính trị, quân sự, sáng lập báo “Việt Nam độc lập”.
Sau Hội nghị một thời gian, ngày 6-6-1941, Bác tự tay thảo bức thư “Kính cáo đồng bào” ký tên Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào, toàn dân đoàn kết đánh kẻ thù chung là thực dân Pháp, phát xít Nhật và Việt gian, giành độc lập, tự do.
Cũng thời gian này, dù bận trăm công ngàn việc nhưng Bác vẫn làm nhiều bài thơ như: Việt Nam độc lập, Dân cày, Trẻ con, Công nhân, Bài ca Phụ nữ, Ca binh lính…; Bác đã biên soạn nhiều tài liệu như: Lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô, Điều lệ Đảng, Phụ nữ cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Thanh niên cứu quốc… viết tác phẩm Cách đánh du kích, gồm 13 chương, nội dung mỗi chương nêu ngắn gọn, dễ hiểu để cán bộ, nhân dân nhận thức đúng và thực hiện được.
Từ Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc đã đi nhiều nơi ở Cao Bằng, nhiều lần sang Trung Quốc bắt liên lạc với các lực lượng cách mạng Việt Nam và đồng minh. Trong chuyến đi Trung Quốc ngày 13/08/1942, Người đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam trái phép đến ngày 10/09/1943 mới được trả tự do. Cuối tháng 09/1944, Người trở về Pác Bó tiếp tục chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Ngày 22/12/1944, tại rừng Trần Hưng Đạo, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, gồm 34 chiến sĩ, dưới sự chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Ngày 04/5/1945, Bác cùng đoàn cán bộ rời Pác Bó về Tân Trào (Tuyên Quang) để chỉ đạo, tập hợp quốc dân tham gia tổng khởi nghĩa để giành chính quyền trong cả nước, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ngày 02/9/1945), nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Sau 20 năm xa cách ngày 20/2/1961 dù đã 71 tuổi và sức khỏe giảm sút, nhưng Bác Hồ vẫn đi bộ trở lại thăm Pắc Bó quê hương thứ hai của Người.
Tại đây, nhớ kỷ niệm xưa và tức cảnh khi trở lại thăm căn cứ lịch sử cách mạng Pác Bó, Bác Hồ làm bài thơ không đầu đề, nội dung như sau:
“Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay”.
Các điểm di tích
Khu Di tích lịch sử Pác Bó rộng trên 295 ha và có trên 46 điểm di tích, trở thành một trong những khu di tích có tầm quan trọng đặc biệt trong hệ thống các di tích về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng thời kỳ 1941-1945.
Khu di tích lịch sử quốc gia Pác Bó bao gồm:
Cụm di tích khu vực đầu nguồn
– Hang Cốc Bó: rộng khoảng 80m2, cửa hang chỉ một người đi vừa. Đây là nơi Bác và các đồng chí cán bộ cách mạng ở từ ngày 08/02/1941 đến trung tuần tháng 3 năm 1941. Trong hang hiện còn một bộ bàn ghế mà Bác đã từng ngồi làm việc với các cán bộ cách mạng và dịch các tài liệu quan trọng.
– Nền nhà ông Lý Quốc Súng: là ngôi nhà Bác Hồ đã ở khi mới trở về Tổ quốc chỉ đạo cách mạng (từ ngày 28 tháng 01 đến ngày 07/02/1941). Ngôi nhà này được xây dựng khoảng năm 1937, theo kiểu nhà sàn ở địa phương.
– Hang Lũng Lạn: là nơi Bác ở và làm việc trong khoảng cuối tháng 3 năm 1941. Hang rộng khoảng 50m2.
– Hang Ngườm Vài: tại đây, năm 1941, Bác trực tiếp dự và hướng dẫn và kết nạp Đảng cho đồng chí Nông Thị Trưng. Hang rộng khoảng 80m2.
– Suối Lê Nin: thời gian ở Pác Bó, Bác thường ngồi câu cá ở suối này. Đến nay, di tích vẫn giữ được cảnh quan tương đối nguyên vẹn.
– Nền nhà ông La Thanh: là cơ sở cách mạng quan trọng thời kỳ tiền khởi nghĩa. Đây là nơi đón tiếp các đại biểu toàn quốc về dự Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8. Hiện nay, di tích chỉ còn lại nền nhà cũ, diện tích rộng 131m2.
– Cột mốc 108: nay là cột mốc số 675, là một trong 314 cột mốc biên giới Việt – Trung xưa, được làm bằng đá tảng nguyên khối, hình bầu dục, cao khoảng 70cm, bên trên khắc nội dung bằng tiếng Trung và tiếng Pháp. Nơi đây, Bác Hồ đã cúi xuống ôm hôn mảnh đất Tổ quốc thân thương sau bao năm xa cách. Khi đó Bác đã 50 tuổi, mái tóc đã pha sương.
– Khu ruộng Goọc Mu: vốn là một xóm trong thôn Pác Bó; sau khi thực hiện chính sách quy hoạch lại khu cư trú để thành lập hợp tác xã nông nghiệp, xóm Goọc Mu được chuyển về trung tâm Pác Bó. Tại địa điểm Goọc Mu, năm 1940, nhân dân thôn Pác Bó đã từng vào đây cắt máu ăn thề, nguyện suốt đời đi theo cách mạng.
Các điểm lưu niệm tại khu trung tâm
– Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và sân quảng trường: được xây dựng theo mô hình nhà sàn dân tộc, nằm trên dãy Linh Sơn, thuộc khu di tích Pác Bó, khánh thành năm 2011. Những kỷ vật đơn sơ, giản dị mà Người đã từng sử dụng được trưng bày trang trọng tại Nhà trưng bày của Khu di tích: từ chiếc máy chữ, chiếc làn mây cũ, đến đôi dép cao su giản dị…, đều trở nên thiêng liêng, nhắc nhở chúng ta nhớ về những trang sử vĩ đại của dân tộc.
– Khu ruộng Nà Chang: có diện tích khoảng 5000m2, là nơi mít tinh đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với nhân dân Pác Bó ngày 20/2/1961.
– Các công trình: nhà trưng bày, nhà đón tiếp.
Cụm di tích Kim Đồng
– Mộ Kim Đồng: nằm dưới chân núi Tèo Lài, thuộc làng Nà Mạ. Hiện nay, toàn bộ khu vực này được xây tường rào bao quanh. Bên trái mộ Kim Đồng là mộ của mẹ Kim Đồng, phía sau là tượng đài Kim Đồng và bức tường nghệ thuật, thể hiện ý nghĩa 14 mùa xuân của Kim Đồng.
– Hang Nộc Én: nằm ở dãy núi Phia Đài và Phia U, phía sau làng Nà Mạ. Tại địa điểm này, vào tháng 8 năm 1942, Kim Đồng đã được Bác giao nhiệm vụ thông tin liên lạc, bảo vệ cách mạng.
– Pò Đoi – Thoong Mạ: là nơi thành lập Đội Nhi đồng cứu quốc (ngày 15/5/1941), do Kim Đồng là đội trưởng. Hiện nay, di tích đã được Tỉnh Đoàn Cao Bằng xây dựng nhà bia lưu niệm, ghi dấu sự kiện thành lập Đội Nhi đồng cứu quốc và ghi danh những thành viên trong đội.
Cụm di tích Bó Bẩm
– Nhà ông Dương Văn Đình: là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nói chuyện, về cuộc sống của nhân dân, nỗi khổ của người dân mất nước, tuyên truyền về cách mạng.
– Núi Các Mác, suối Lê Nin, hang Đầu Hổ: là nơi nhân dân Cao Bằng đã tổ chức lễ truy điệu Bác (tháng 9 năm 1969).
Cụm di tích Khuổi Nặm
– Lán Khuổi Nặm: là nơi Bác ở lâu nhất. Ngoài ra, để đảm bảo an toàn cho Bác, các đồng chí cán bộ đã làm thêm cho Người hai lán nữa (lán Khuổi Nặm II và III). Lán Khuổi Nặm có địa thế rất thuận lợi, nằm ngay ở cửa rừng, được che kín, nhìn bên ngoài vào không phát hiện được, nhưng ở bên trong quan sát ra thì rất rõ, khi có động tĩnh có thể rút lui, ngược dòng Khuổi Nặm qua mốc 109 sang Trung Quốc an toàn. Lán được dựng theo kiểu nhà sàn dân tộc, với 2 gian nhỏ, có diện tích khoảng 12m2. Lán hiện nay mới được trùng tu lại trong khoảng thời gian gần đây.
– Hang Slí Điếng và hang Diêm Tiêu: là địa điểm được Bác sử dụng làm hòm thư bí mật, giai đoạn 1941 – 1945.
Giá trị lịch sử
Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn Cao Bằng là căn cứ địa cách mạng đầu tiên với nhiều khó khăn, thách thức. Nhưng sứ mệnh thiêng ấy được Đảng bộ và nhân dân Cao Bằng thực hiện tròn trọng trách. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học đặc biệt của Khu di tích, Pác Bó ngày nay trở thành một địa danh thiêng liêng, khu di tích Quốc gia đặc biệt, là niềm tự hào đối với mỗi người dân Việt Nam. Nơi núi rừng Pác Bó, ở đâu cũng có những điểm ghi dấu bước chân Bác từng đi qua, nơi Bác từng sinh hoạt và làm việc, cuộc sống bình dị với “cháo bẹ, rau măng”, “sáng ra bờ suối tối vào hang”, quãng thời gian hoạt động cách mạng gian khổ mà hào hùng, lạc quan của Người.
Tại nhà trưng bày ở Khu di tích Pác Bó, bạn sẽ thấy chiếc máy chữ, chiếc làn mây cũ, đôi dép cao su … mà Bác đã dùng. Tất cả những kỷ vật tưởng chừng rất đỗi bình dị này song rất thiêng liêng đối với mỗi người dân đất Việt bởi nó gắn liền với cuộc đời hoạt động của Bác, người đã làm nên những trang sử vĩ đại cho dân tộc Việt Nam.
Ngoài ra khi đến với tỉnh Cao Bằng các bạn còn được tham quan các điểm du lịch nổi tiếng khác như là : Thác Bản Giốc, Động Ngườm Ngao, Hồ Thăng Hen, Làng rèn Phúc Sen… Và thưởng thức các sản vật Cao Bằng phong phú như: rau dạ hiến, rau bò khoai, bánh coong phù, hạt dẻ Trùng Khánh, phở Chua, Lê Đông Khê, cá hồ Thang Hen, măng chua, mận Bảo Lạc….
HỌC CHỨNG CHỈ NGHIỆP VỤ - HỖ TRỢ XIN THẺ HDV QUỐC TẾ, NỘI ĐỊA TOÀN QUỐC.
LH: 0964174400

Address

BT1 Lô 7 Khu Đô Thị Tân Tây Đô/Đan Phượng
Hanoi
153300

Opening Hours

Monday 07:30 - 20:30
Tuesday 07:30 - 20:30
Wednesday 07:30 - 20:30
Thursday 07:30 - 20:30
Friday 07:30 - 20:30
Saturday 07:30 - 20:30
Sunday 07:30 - 20:30

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Du Lịch Miền Đất Mới posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Du Lịch Miền Đất Mới:

Share