05/05/2026
Quy định về “Cuộc đấu giá”, “phiên đấu giá” và “việc đấu giá”
Một trong những điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản năm 2024 là thay thế cụm từ “phiên đấu giá” thành “cuộc đấu giá” trong một số quy định. Rà soát tổng thể Luật Đấu giá tài sản (được sửa đổi, bổ sung) có 03 cụm từ liên quan cần được làm rõ, đó là: “Cuộc đấu giá”, “phiên đấu giá” và “việc đấu giá”.
1. Phiên đấu giá
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản năm 2024 đã thay “Cuộc đấu giá” thành “Phiên đấu giá” tại nhiều nội dung[1], cụ thể:
- Nguyên tắc đấu giá tài sản: Phiên đấu giá phải do đấu giá viên điều hành, trừ trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện.
- Các hành vi bị nghiêm cấm: Nghiêm cấm tổ chức hành nghề đấu giá tài sản “Cản trở, gây khó khăn cho người tham gia đấu giá trong việc đăng ký tham gia đấu giá, tham dự phiên đấu giá”; Nghiêm cấm người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, cá nhân, tổ chức khác “Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; sử dụng giấy tờ giả mạo để đăng ký tham gia đấu giá, tham dự phiên đấu giá”.
- Người tham gia đấu giá không được nhận lại tiền đặt trước trong trường hợp “Đã nộp tiền đặt trước nhưng không tham dự phiên đấu giá, buổi công bố giá mà không thuộc trường hợp bất khả kháng”.
- Người rút lại giá đã trả hoặc rút lại giá đã chấp nhận quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 50 bị truất quyền tham dự phiên đấu giá.
- Hội đồng đấu giá tài sản có quyền “Truất quyền tham dự phiên đấu giá và lập biên bản xử lý đối với người tham gia đấu giá có hành vi gây rối trật tự phiên đấu giá, thông đồng, móc nối để dìm giá hoặc hành vi khác làm ảnh hưởng đến tính khách quan, trung thực của phiên đấu giá”.
- Nghiêm cấm tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng thực hiện hành vi “Cản trở, gây khó khăn cho người tham gia đấu giá trong việc mua hồ sơ mời tham gia đấu giá, đăng ký tham gia đấu giá, tham dự phiên đấu giá, giao, nhận tài sản đấu giá”.
- Đấu giá viên có quyền “Điều hành phiên đấu giá theo hợp đồng giữa Hội đồng đấu giá tài sản với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản nơi đấu giá viên hành nghề trong trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng thực hiện hoặc tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng trong trường hợp tổ chức tự đấu giá”.
- Người có tài sản đấu giá có quyền hủy bỏ hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản khi có căn cứ “Tổ chức không có chức năng hoạt động đấu giá tài sản mà tiến hành cuộc đấu giá hoặc cá nhân không phải là đấu giá viên mà điều hành phiên đấu giá, trừ trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện”.
- Những người không được đăng ký tham gia đấu giá: “Người làm việc trong tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện cuộc đấu giá; cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của đấu giá viên điều hành phiên đấu giá; người trực tiếp giám định, định giá tài sản; cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của người trực tiếp giám định, định giá tài sản”.
- Biên bản đấu giá: “Diễn biến của phiên đấu giá phải được ghi vào biên bản đấu giá. Biên bản đấu giá phải được lập tại phiên đấu giá và có chữ ký của đấu giá viên điều hành phiên đấu giá, người ghi biên bản, người trúng đấu giá, người có tài sản đấu giá, đại diện của những người tham gia đấu giá. Trong trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện thì biên bản đấu giá còn phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng”.
- Về từ chối kết quả trúng đấu giá.
2. Cuộc Đấu giá
Bên cạnh thuật ngữ “phiên đấu giá”, Luật Đấu giá tài sản vẫn sử dụng cụm từ “Cuộc đấu giá” tại các nội dung như:
- Mức giảm giá là mức chênh lệch tối thiểu của lần đặt giá sau so với lần đặt giá trước liền kề trong trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống. Mức giảm giá do người có tài sản đấu giá quyết định và thông báo bằng văn bản cho tổ chức hành nghề đấu giá tài sản đối với từng cuộc đấu giá.
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, người mua được tài sản đấu giá ngay tình: “Việc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá, khởi kiện về hiệu lực pháp lý của cuộc đấu giá thành, việc hủy kết quả đấu giá tài sản quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 72 của Luật này được thực hiện theo thủ tục rút gọn của pháp luật về tố tụng dân sự:.
- Tổ chức hành nghề đấu giá tài sản có các nghĩa vụ “Ban hành Quy chế cuộc đấu giá theo quy định tại Điều 34 của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan”.
- Người có tài sản đấu giá có quyền hủy bỏ hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản khi có một trong các căn cứ sau đây: “Tổ chức không có chức năng hoạt động đấu giá tài sản mà tiến hành cuộc đấu giá hoặc cá nhân không phải là đấu giá viên mà điều hành phiên đấu giá, trừ trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện”; “Tổ chức hành nghề đấu giá tài sản tổ chức cuộc đấu giá không đúng quy định về hình thức đấu giá, phương thức đấu giá theo Quy chế cuộc đấu giá dẫn đến làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản”.
- Những người sau đây không được đăng ký tham gia đấu giá: “Người làm việc trong tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện cuộc đấu giá;…”
- Tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thỏa thuận với người có tài sản đấu giá lựa chọn một trong các hình thức sau đây để tiến hành cuộc đấu giá:…”.
- Biên bản đấu giá: “Cuộc đấu giá chấm dứt khi đấu giá viên công bố người trúng đấu giá hoặc khi đấu giá không thành theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Luật này”.
- Quy định về chuyển hồ sơ cuộc đấu giá.
- Người có tài sản đấu giá có quyền: “Quyết định áp dụng bước giá hoặc không áp dụng bước giá đối với cuộc đấu giá. Trong trường hợp quyết định áp dụng bước giá thì bước giá được xác định là mức chênh lệch cố định hoặc mức chênh lệch có tối thiểu và có tối đa hoặc mức chênh lệch tối thiểu”; “Yêu cầu tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, đấu giá viên tạm dừng, dừng, hủy bỏ cuộc đấu giá, phiên đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự trong trường hợp đấu giá tài sản thi hành án”.
- Người có tài sản đấu giá có nghĩa vụ “Không được cung cấp thông tin của người tham gia đấu giá cho người tham gia đấu giá khác trong quá trình thẩm tra, xét duyệt điều kiện tham gia đấu giá cho đến khi kết thúc cuộc đấu giá”.
- Quy định về từ chối kết quả trúng đấu giá.
- Đấu giá không thành: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày cuộc đấu giá không thành, tổ chức hành nghề đấu giá tài sản trả lại tài sản, giấy tờ liên quan đến tài sản đấu giá cho người có tài sản đấu giá, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác”.
- Đấu giá theo thủ tục rút gọn: “Đấu giá tài sản thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu mà giá khởi điểm của tất cả tài sản đấu giá trong một cuộc đấu giá dưới năm mươi triệu đồng”.
- Lưu trữ hồ sơ: “Người có tài sản đấu giá, tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, người có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện việc lưu trữ hồ sơ, tài liệu đấu giá theo quy định của pháp luật về lưu trữ trong thời hạn tối thiểu là 05 năm kể từ ngày kết thúc cuộc đấu giá, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về đấu giá tài sản tại địa phương có nhiệm vụ, quyền hạn “Bảo đảm biên chế, cơ sở vật chất và điều kiện làm việc cho Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về đơn vị sự nghiệp công lập có thu; hỗ trợ việc bảo đảm an ninh, trật tự cho cuộc đấu giá theo đề nghị của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản”.
3. Việc đấu giá
- Áp dụng Luật đấu giá tài sản và quy định về trình tự, thủ tục đấu giá tài sản tại các luật khác: “Việc đấu giá đối với chứng khoán được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán; việc đấu giá đối với tài sản công của cơ quan Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công; việc đấu giá đối với biển số xe được thực hiện theo quy định của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ”.
- Tổ chức hành nghề đấu giá tài sản có quyền “Được liên kết với các tổ chức hành nghề đấu giá tài sản khác để tổ chức việc đấu giá tài sản quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này”; “Thực hiện việc đấu giá tài sản theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục quy định tại Luật này, trừ trường hợp quy định tại điểm a1 khoản 1 Điều này và chịu trách nhiệm về kết quả đấu giá tài sản”.
- Văn phòng đại diện của doanh nghiệp đấu giá tài sản: “Văn phòng đại diện của doanh nghiệp đấu giá tài sản do doanh nghiệp thành lập trong hoặc ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Văn phòng đại diện không được thực hiện việc đấu giá tài sản”.
- Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản: “Người có tài sản đấu giá ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản để thực hiện việc đấu giá tài sản. Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản phải được lập thành văn bản, được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định của Luật này”.
- Người có tài sản đấu giá có quyền hủy bỏ hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản khi có một trong các căn cứ sau đây: “Tổ chức hành nghề đấu giá tài sản có một trong các hành vi: … không thông báo công khai việc đấu giá tài sản”.
- Quy chế cuộc đấu giá: “Tổ chức hành nghề đấu giá tài sản ban hành Quy chế cuộc đấu giá áp dụng cho từng cuộc đấu giá trước ngày niêm yết việc đấu giá tài sản”.
- Quy định về Niêm yết việc đấu giá tài sản.
- Người có tài sản đấu giá có quyền “Giám sát quá trình tổ chức thực hiện việc đấu giá”.
- Việc đấu giá tài sản trong trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá.
- Trình tự, thủ tục đấu giá tài sản mà pháp luật quy định phải đấu giá: “Việc đấu giá tài sản quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật này được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Chương III của Luật này và quy định tại Chương này”.
- Chi phí đấu giá tài sản bao gồm chi phí niêm yết, thông báo công khai, chi phí thực tế hợp lý khác cho việc đấu giá tài sản do người có tài sản đấu giá và tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thỏa thuận.
- Khiếu nại, khởi kiện về việc đấu giá tài sản của Hội đồng đấu giá tài sản.
Kiến nghị: Luật Đấu giá tài sản quy định những trường hợp xác định theo “Cuộc đấu giá”, những trường hợp xác định theo “Phiên đấu giá” và “việc đấu giá” như viện dẫn ở trên. Trong đó, có những trường hợp liên quan đến hiệu lực của đấu giá, như: Tổ chức không có chức năng hoạt động đấu giá tài sản mà tiến hành cuộc đấu giá hoặc cá nhân không phải là đấu giá viên mà điều hành phiên đấu giá, trừ trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện thì người có tài sản đấu giá có quyền hủy bỏ hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản. Hoặc không được đăng ký tham gia đấu giá “Người làm việc trong tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thực hiện cuộc đấu giá; cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh ruột, chị ruột, em ruột của đấu giá viên điều hành phiên đấu giá”; trường hợp từ chối kết quả trúng đấu giá tại “phiên đấu giá” có thể dẫn đến “cuộc đấu giá không thành” (Điều 51 Luật Đấu giá tài sản).
Luật Đấu giá tài sản và các Nghị định, Thông tư chưa có quy định thế nào là “cuộc đấu giá”, “phiên đấu giá”, “việc đấu giá” nên có thể dẫn đến những cách hiểu thiếu thống nhất và áp dụng pháp luật khác nhau. Do đó, kiến nghị cần nghiên cứu làm rõ những khái niệm nêu trên./.
[1] Điểm k, l, m, n, o, p, q khoản 45 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản
https://stp.hue.gov.vn
https://daugia.dvlgroup.vn/?fbclid=IwAR1fF1widH8Wx7gjlvhloIVW9a2Buny-YkJsdy0XGWJjYhTnyf8T4vjUIzg_aem_AR5hDNu4-kTzJtcDLq0-dyc6dOqrykw3FLSYhLMxEC1z95E6gYaIi9jch2mf7siEqodrURRfuX-fK0uHH54Nceym
DVL AUCTION được thành lập bởi các đấu giá viên và các luật sư có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực đấu gía, đấu thầu được Sở Tư Pháp thành phố Hà Nội cấp phép hoạt động số: 108/TP – ĐKHĐ ngày 29 tháng 06 năm 2020...