10/09/2026
HỆ SỐ K : CẢNH BÁO ĐỎ,DOANH NGHIỆP CẦN LƯU Ý!
Doanh nghiệp không xuất khống.
Không trốn thuế.
Không mua bán hóa đơn.
Không sai một đồng nào về bản chất giao dịch.
Sai duy nhất một điểm: 2,4 tỷ đồng hàng đã về kho trong tháng 9, nhưng hóa đơn nhà cung cấp lại xuất ngày 05/10.
Và chỉ vì độ lệch thời điểm đó, hệ số K bị đẩy lên 1,32 — đủ để hệ thống cảnh báo rủi ro.
Mới đây, Cục Thuế đã có trả lời thẳng về vướng mắc liên quan đến hệ số K tại Công văn 6297/CT-QLTT ngày 25/8/2026. Có các phần trong văn bản này mà theo tôi, mọi kế toán trưởng, CFO và chủ doanh nghiệp nên in ra, gạch chân, rồi dán ngay lên bàn làm việc.
PHẦN 1 — CỤC THUẾ NÓI GÌ TẠI CÔNG VĂN 6297?
Doanh nghiệp kiến nghị rằng: hệ số K hiện đang đo quan hệ giữa “hàng mua vào – tồn kho – hóa đơn bán ra”, nên các doanh nghiệp thuần dịch vụ, vốn không có hàng tồn kho, vẫn có thể bị cảnh báo rủi ro.
Cục Thuế trả lời nguyên văn:
“Đối với hệ số K hiện chỉ là công cụ cảnh báo rủi ro, đang triển khai đối với người nộp thuế (NNT) có ngành nghề kinh doanh chính thuộc nhóm ngành Thương mại, Sản xuất; chưa áp dụng đối với các doanh nghiệp thuần túy cung cấp dịch vụ, tư vấn, phần mềm, đào tạo...”
Và Cục Thuế cũng nêu:
“Cục Thuế sẽ nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp.”
Từ đó, có 3 điểm cần rút ra ngay:
1. Hệ số K là công cụ cảnh báo, không phải kết luận vi phạm
Bị cảnh báo hệ số K không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã sai, đã gian lận hoặc chắc chắn bị truy thu.
Nhưng nếu nhận cảnh báo mà doanh nghiệp im lặng, không giải trình, không cung cấp chứng từ, thì vấn đề sẽ bắt đầu trở nên nghiêm trọng.
KTT, CEO CẦN HIỂU RẰNG
Bị cảnh báo chưa nguy hiểm bằng việc KHÔNG phản hồi cảnh báo.
2. Hệ số K đang áp cho nhóm ngành thương mại – sản xuất
Điểm cần lưu ý là hệ số K đang được triển khai đối với người nộp thuế có ngành nghề kinh doanh chính thuộc nhóm:
Thương mại;
Sản xuất.
Vì vậy, ngành nghề kinh doanh chính doanh nghiệp đang đăng ký là gì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc doanh nghiệp có nằm trong nhóm bị hệ thống theo dõi hay không.
3. Doanh nghiệp thuần dịch vụ, tư vấn, phần mềm, đào tạo chưa áp dụng
Theo nội dung Công văn 6297/CT-QLTT ngày 25/8/2026, các doanh nghiệp thuần túy cung cấp:
Dịch vụ;
Tư vấn;
Phần mềm;
Đào tạo;
chưa thuộc nhóm áp dụng hệ số K.
Do đó, nếu doanh nghiệp của bạn thuộc nhóm này nhưng vẫn nhận cảnh báo hệ số K, thì Công văn 6297/CT-QLTT ngày 25/8/2026 là một căn cứ quan trọng để phản hồi bằng văn bản với cơ quan thuế.
PHẦN 2— 7 NGUYÊN NHÂN BỊ CẢNH BÁO HỆ SỐ K MÀ KHÔNG HỀ VI PHẠM
Không phải cứ bị cảnh báo hệ số K là doanh nghiệp sai. Có nhiều tình huống hoàn toàn có thật, có chứng từ, có bản chất kinh tế rõ ràng nhưng vẫn làm hệ số K bị đẩy lên.
1. Hóa đơn đầu vào về chậm
Hàng đã nhập tháng này nhưng hóa đơn lại về kỳ sau.
Đây chính là ví dụ ở phần trên: hàng đã nhập kho cuối tháng 9, nhưng hóa đơn nhà cung cấp xuất ngày 05/10.
2. Hàng nhập khẩu đã thông quan nhưng chưa vào dữ liệu hóa đơn điện tử
Với hàng nhập khẩu, hồ sơ thường nằm ở:
Tờ khai hải quan;
Chứng từ nộp thuế nhập khẩu;
Chứng từ nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu;
Vận đơn;
Hồ sơ logistics.
Nhưng các dữ liệu này không nhất thiết nằm trong dữ liệu hóa đơn điện tử đầu vào, nên mẫu số tính K có thể bị thiếu.
3. Mua hàng của cá nhân không có hóa đơn
Một số doanh nghiệp mua:
Nông sản;
Thủy sản;
Phế liệu;
Hàng thanh lý của người dân;
Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân không xuất hóa đơn.
Khi đó, mẫu số có thể không ghi nhận đầy đủ, trong khi tử số bán ra vẫn chạy bình thường.
4. Xuất hóa đơn theo tiến độ
Các ngành như:
Xây dựng;
Xây lắp;
Hợp đồng nhiều giai đoạn;
Nghiệm thu theo từng đợt;
có thể xuất hóa đơn theo tiến độ nghiệm thu, trong khi vật tư, chi phí mua vào lại phát sinh rải rác ở nhiều kỳ khác nhau.
5. Bán hàng giao thẳng, không qua kho
Hàng đi thẳng từ nhà cung cấp đến khách hàng, không nhập kho vật lý tại doanh nghiệp.
Nếu dữ liệu mua vào, vận chuyển, giao nhận và hóa đơn không khớp thời điểm, hệ số K có thể bị lệch.
6. Chi nhánh phụ thuộc bán hàng của trụ sở chính
Chi nhánh có thể là đơn vị xuất hóa đơn bán ra nhưng không trực tiếp phát sinh nghiệp vụ mua vào.
Điều này khiến tử số phát sinh ở chi nhánh, còn mẫu số lại nằm ở trụ sở chính hoặc đơn vị khác.
7. Chênh lệch tỷ giá
Doanh nghiệp mua bằng ngoại tệ, bán bằng VNĐ hoặc có thời điểm ghi nhận khác nhau giữa mua và bán.
Biến động tỷ giá cũng có thể tạo ra chênh lệch khi đối chiếu giá trị mua vào – bán ra.
Điểm chung của cả 7 tình huống trên là:
Đều có thể giải trình được, miễn là doanh nghiệp có chứng từ và phản hồi đúng hạn.
PHẦN 3 — KHÔNG GIẢI TRÌNH THÌ ĐIỀU GÌ XẢY RA? KHUNG PHÁP LÝ MỚI TỪ 01/7/2026
Đây là phần rất quan trọng, vì khung pháp lý đã thay đổi từ ngày 01/7/2026.
Nhiều người vẫn đang tra theo:
Nghị định 123/2020/NĐ-CP;
Nghị định 70/2025/NĐ-CP;
nhưng theo nội dung bạn đang đề cập, hai văn bản này đã hết hiệu lực trong phạm vi liên quan và đã được thay thế.
Các văn bản cần lưu ý gồm:
Nghị định 254/2026/NĐ-CP, hiệu lực từ 01/7/2026, thay thế Nghị định 123/2020/NĐ-CP, Điều 1 Nghị định 41/2022/NĐ-CP và Nghị định 70/2025/NĐ-CP.
Thông tư 91/2026/TT-BTC, ban hành ngày 30/6/2026, hiệu lực từ 01/7/2026, hướng dẫn Nghị định 254/2026/NĐ-CP, quy định 11 trường hợp ngừng sử dụng hóa đơn điện tử.
Thông tư 94/2026/TT-BTC về quản lý rủi ro trong quản lý thuế, phân loại người nộp thuế theo 3 mức:
Rủi ro cao;
Rủi ro trung bình;
Rủi ro thấp.
Chuỗi hậu quả có thể xảy ra
Nếu doanh nghiệp bị cảnh báo hệ số K nhưng không giải trình, không bổ sung hồ sơ, không làm rõ nguyên nhân, rủi ro có thể đi theo chuỗi sau.
Bước 1 — Cảnh báo hệ số K
Doanh nghiệp bị đưa vào danh sách giám sát xuất hóa đơn.
Bước 2 — Cơ quan thuế yêu cầu giải trình
Thời hạn giải trình được tính bằng ngày làm việc, không phải tính theo tuần hay theo cảm tính.
Nếu sau lần yêu cầu thứ hai mà doanh nghiệp vẫn không giải trình được, cơ quan thuế có thể ra thông báo chính thức.
Bước 3 — Bị phân loại là người nộp thuế rủi ro cao
Theo Nghị định 254/2026/NĐ-CP, người nộp thuế rủi ro cao về thuế bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế.
Bước 4 — Có thể bị ngừng sử dụng hóa đơn điện tử
Theo Thông tư 91/2026/TT-BTC, trường hợp thứ 11 trong nhóm ngừng sử dụng hóa đơn điện tử là trường hợp người nộp thuế được xác định rủi ro cao theo Thông tư 94/2026/TT-BTC.
Bước 5 — Hoàn thuế GTGT chuyển sang cơ chế kiểm tra trước, hoàn sau
Theo Thông tư 94/2026/TT-BTC, người nộp thuế rủi ro cao có thể bị áp dụng nguyên tắc:
Kiểm tra trước, hoàn thuế sau.
Điều này đặc biệt ảnh hưởng tới doanh nghiệp có hồ sơ hoàn thuế GTGT thường xuyên.
PHẦN 4 — BỘ HỒ SƠ GIẢI TRÌNH: NỘP GÌ CHO TỪNG NGUYÊN NHÂN?
Một công văn giải trình hệ số K không nên chỉ viết chung chung rằng “doanh nghiệp không sai”.
Công văn cần có đủ 4 phần:
1/Thông tin doanh nghiệp và kỳ bị cảnh báo;
2/Số liệu doanh nghiệp tự tính lại hệ số K;
3/Nguyên nhân cụ thể làm hệ số K tăng bất thường;
4/Danh mục chứng từ kèm theo.
Lưu ý rất quan trọng:
Nộp bản giải trình mà không kèm bảng tự tính lại hệ số K thì gần như chắc chắn sẽ bị hỏi vòng 2.
Doanh nghiệp cần chủ động đưa ra con số trước, thay vì chỉ chờ cơ quan thuế đặt câu hỏi.
PHẦN 5— CẦN TÁCH BẠCH RÕ: TỐI ƯU HỢP PHÁP VÀ RỦI RO VI PHẠM
Tối ưu hợp pháp DN nên làm ngay:
Doanh nghiệp có thể và nên làm những việc sau ngay trong tháng 9:
1. Tự tính hệ số K hằng tháng trước khi cơ quan thuế tính
Chỉ cần 3 số:
Tồn kho cuối kỳ trước;
Mua vào có hóa đơn;
Bán ra trên hóa đơn.
Việc này chỉ mất khoảng 15 phút mỗi tháng nhưng giúp doanh nghiệp biết trước mình có rơi vào vùng cảnh báo hay không.
2. Đưa thời hạn xuất hóa đơn vào hợp đồng mua hàng
Trong hợp đồng với nhà cung cấp nên có điều khoản:
Nhà cung cấp phải xuất hóa đơn trong vòng 3–5 ngày kể từ ngày giao hàng.
Điều khoản này giúp hạn chế tình trạng hàng đã nhập kho nhưng hóa đơn lại về kỳ sau.
3. Hạch toán đầy đủ TK 151 và TK 331
Doanh nghiệp cần hạch toán rõ:
TK 151 — Hàng mua đang đi đường;
TK 331 — Phải trả cho người bán.
Đây là bằng chứng số học quan trọng để giải trình phần chênh lệch giữa hàng thực tế và dữ liệu hóa đơn.
4. Lập bảng kê thu mua không có hóa đơn đúng thời điểm
Với hàng hóa, dịch vụ mua của cá nhân không có hóa đơn, cần lập bảng kê theo quy định ngay tại thời điểm mua.
Không nên đợi đến khi cơ quan thuế hỏi mới quay lại gom chứng từ.
5. Rà lại ngành nghề kinh doanh chính trên đăng ký kinh doanh
Vì hệ số K đang áp theo nhóm ngành thương mại, sản xuất, doanh nghiệp cần kiểm tra ngành nghề kinh doanh chính trên đăng ký kinh doanh có phản ánh đúng bản chất hoạt động thực tế hay không.
6. Nếu là doanh nghiệp thuần dịch vụ mà bị cảnh báo, phải phản hồi bằng văn bản
Nếu doanh nghiệp thuộc nhóm:
Dịch vụ;
Tư vấn;
Phần mềm;
Đào tạo;
nhưng vẫn bị cảnh báo hệ số K, cần phản hồi bằng văn bản và viện dẫn Công văn 6297/CT-QLTT ngày 25/8/2026.
7. Chuẩn bị sẵn bộ hồ sơ giải trình mẫu
Doanh nghiệp nên chuẩn bị trước:
Mẫu công văn giải trình;
Bảng tự tính hệ số K;
Danh mục chứng từ;
File lưu hợp đồng, phiếu nhập kho, biên bản giao nhận, hóa đơn, tờ khai hải quan, chứng từ thanh toán.
Mục tiêu là khi có yêu cầu, doanh nghiệp có thể nộp trong vòng 24 giờ, không phải chạy đi tìm từng chứng từ.
Rủi ro vi phạm — tuyệt đối không làm
Có những cách “làm đẹp” hệ số K nghe có vẻ nhanh, nhưng thực chất là đẩy doanh nghiệp vào rủi ro hình sự, thuế và hóa đơn.
1. Mua hóa đơn đầu vào để “kéo mẫu số”
Đây là hành vi mua bán hóa đơn.
Đồng thời, theo Thông tư 91/2026/TT-BTC, đây cũng có thể là trường hợp dẫn đến ngừng sử dụng hóa đơn điện tử.
2. Ghi tăng khống tồn kho đầu kỳ
Nếu doanh nghiệp ghi tăng tồn kho để làm đẹp mẫu số, số liệu sẽ lệch với báo cáo tài chính đã nộp.
Khi đối chiếu là phát hiện được ngay.
3. Ghi lùi ngày hóa đơn đầu vào
Việc ghi lùi ngày hóa đơn để khớp kỳ không chỉ gây rủi ro cho doanh nghiệp bạn, mà còn kéo cả nhà cung cấp vào rủi ro.
4. Nhờ công ty khác trong nhóm xuất hộ hóa đơn bán ra
Việc chia nhỏ tử số bằng giao dịch không có bản chất kinh tế có thể bị xem xét ấn định, loại trừ hoặc xử lý theo quy định.
5. Im lặng, không giải trình, chờ xem sao
Đây là con đường ngắn nhất để đi từ:
Cảnh báo hệ số K
sang
rủi ro cao
rồi đến
ngừng sử dụng hóa đơn điện tử.
6. Xuất hóa đơn khống rồi điều chỉnh hoặc thay thế sau
Hệ thống hóa đơn điện tử lưu toàn bộ lịch sử hóa đơn.
Không có chuyện “xóa dấu vết” bằng cách điều chỉnh hoặc thay thế sau.
TÓM LẠI
Hệ số K là cảnh báo.
Giải trình được hay không mới là vấn đề.
Và người phải nhìn thấy rủi ro này sớm nhất chính là kế toán trưởng.
Một doanh nghiệp có hệ số K cao nhưng có hồ sơ đầy đủ, logic kinh doanh rõ ràng và chứng từ chứng minh hợp lý thì vẫn có cơ sở để bảo vệ mình.
Ngược lại, một doanh nghiệp dù “mua thật, bán thật” nhưng không lưu được hồ sơ, không đối chiếu được dữ liệu, không giải thích được chênh lệch thì vẫn có thể bị xếp vào nhóm rủi ro cao.
Do đó, ngay từ hôm nay, kế toán trưởng nên coi hệ số K như một chỉ báo quản trị nội bộ, không chỉ là vấn đề của cơ quan thuế ĐỂ KT: Chủ động kiểm tra — chủ động giải trình — chủ động bảo vệ doanh nghiệp.
Và nếu bạn là KTT mà nghiệp vụ cả Thuế và Quản trị còn chưa tương xứng với quy mô Doanh nghiệp, bạn luôn trong tình trạng bất an , lo lắng thì đến lúc bạn cần 1 người đồng hành 1 Mentor dẫn đường giúp bạn tự tin và an tâm trong công việc.
Đó là lý do rất nhiều các bạn KTT chọn Minh để làm người đồng hành 1:1 trong sự nghiệp để nâng cấp năng lực Thuế và năng lực quản trị Tài chính.