WanDelet

WanDelet Tôi muốn xóa trang

03/08/2016

Tại phiên thảo luận về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2016, các giải pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước 6 tháng cuối năm 2016 Ngày 29/7/2016, Kỳ họp thứ nhất – Quốc hội khóa XIV

Kính thưa các đ/c lãnh đạo và nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tôi đã rất chú ý lắng nghe Báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa trình bày. Cùng một mạch tư duy, phát biểu nhậm chức của Thủ tướng hôm trước và Báo cáo hôm nay đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh, khi đề cập tới những vấn đề lớn của đất nước và của nền kinh tế.

Nói về nợ công, nợ chính phủ, Thủ tướng đã khẳng định: Nợ công cao, áp lực trả nợ lớn, nợ chính phủ đã vượt trần.

Nói về nợ xấu, Thủ tướng thừa nhận: Xử lý nợ xấu còn chưa thực chất và gặp nhiều khó khăn.

Lần đầu tiên chúng ta được thông tin chính thức từ Chính phủ như vậy vì xưa nay chúng ta vẫn nghĩ: Có vẻ như việc xử lý nợ công, nơ xấu đang trong một lộ trình suôn sẻ.

Đây cũng là lần đầu tiên, vấn đề nợ công, nợ xấu, hai vấn đề quan ngại bậc nhất liên quan tới sự ổn định của nền tài chính quốc gia và doanh nghiệp được đề cập một cách thẳng thắn như vậy trong Báo cáo của Chính phủ. Việc nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, thể hiện bản lĩnh và sự minh bạch của Chính phủ. Đây là tiền đề cho những quyết tâm và giải pháp có thể giải quyết một cách thực chất các vấn đề đặt ra cho nền kinh tế đất nước.

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật của Thủ tướng Chính phủ, tôi xin được góp ý như sau:

Trở lại bức tranh kinh tế năm 2015, với con số tăng trưởng 6,68% cho thấy nền kinh tế đang phục hồi và thắp lên những hy vọng về một chu kỳ tăng trưởng mới. Tuy nhiên, nếu suy ngẫm về những số liệu mới được công bố và đặc biệt, qua những chỉ số phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, lại cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa ra khỏi được giai đoạn khó khăn, và sự phục hồi bước đầu của nền kinh tế năm 2015 là không bền vững, bởi lẽ vẫn phải dựa trên việc tăng sản lượng của một số ngành khai thác tài nguyên...

Câu hỏi đặt ra, là tại sao trong suốt 5 năm qua, kể từ năm 2011, chúng ta đã chưa thoát ra khỏi được tình trạng trì trệ và phục hồi rất chậm ? Có những nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan, theo tôi, là ở chỗ: chúng ta đã chưa giải quyết được một cách thực chất những vấn đề lớn của nền kinh tế còn tồn đọng.

Việc cắt giảm biên chế và chi tiêu chính phủ chưa có chuyển biến đáng kể. Tình trạng thâm hụt ngân sách cao vẫn tiếp diễn, thậm chí còn vượt quá mức 5% theo dự toán mà Quốc hội thông qua. Nợ công vẫn tiếp tục gia tăng và có khả năng vượt trần ngay trong năm nay.

Nợ xấu mới chỉ được chuyển sang cho VAMC chứ chưa được mua-bán, sang tên đổi chủ bằng tiền tươi thóc thật. Con số tăng trưởng tín dụng có lẽ cũng không thực chất, khi chưa làm rõ được bao nhiêu phần trăm là do các ngân hàng thương mại đảo nợ, bao nhiêu phần trăm là do các ngân hàng thương mại mua trái phiếu chính phủ. Bởi vậy, mặc dù tín dụng tăng trưởng cao, nhưng các doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận vốn và vẫn phải trả mức lãi suất cao hơn nhiều so với lạm phát.

Công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là cổ phần hoá diễn ra rất chậm. Tỷ lệ doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá không những không đạt kế hoạch, mà quy mô thoái vốn tại nhiều doanh nghiệp cũng chỉ ở mức tượng trưng, không đủ để tạo nên những thay đổi về quản trị cũng như hiệu quả…

Trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, mặc dù Chính phủ đưa ra thông điệp và chương trình hành động rất rõ ràng và thể hiện quyết tâm cao, nhưng nhiều bộ ngành, địa phương chưa thực hiện nghiêm túc. Đơn cử, việc thực hiện Nghị quyết 19 (2014/2015), một nghị quyết mang tính đột phá về cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Sau hai năm thực hiện, chỉ có 13/63 địa phương và 4/22 bộ ngành có gửi báo cáo kết quả thực hiện về Chính phủ. Hay, việc triển khai soạn thảo các nghị định thực hiện Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư đã ban hành từ năm 2014 nhưng suốt cả năm 2015 và Quý I năm 2016, các bộ ngành vẫn “đủng đỉnh” và không tránh khỏi thiếu sót. Và mặc dù gần 50 nghị định hướng dẫn đã được thông qua đúng theo kế hoạch nhưng việc xóa bỏ các điều kiện kinh doanh và giấy phép con bất hợp lý đã chưa được giải quyết dứt điểm ở thời điểm 1/7. Kỷ luật thực thi không nghiêm đã vô hiệu hóa nhiều nỗ lực cải cách thể chế của Chính phủ.

Nhiều giải pháp đúng, nhưng chúng ta triển khai chậm trễ và không đến nơi đến chốn, nên môi trường kinh doanh vẫn chưa được cải thiện nhiều như kỳ vọng. Những rào cản đối với hoạt động đầu tư kinh doanh còn nhiều, thanh tra kiểm tra còn chồng chéo. Trên con đường “đồng hành” cùng người dân và doanh nghiệp, không ít công chức đã bỏ quên mất chữ “đồng”. Sức nóng và sự thôi thúc của cải cách chưa thấm được tới hành vi và thái độ của từng công chức ở cơ sở để mỗi người dân và doanh nghiệp có thể cảm nhận được, có thể yên tâm được. Các chi phí hành chính, chi phí về vốn vẫn ở mức cao, đẩy nhiều doanh nghiệp vào tình trạng thua lỗ, phá sản. Vẫn có tới 60% doanh nghiệp không có lãi hoặc kinh doanh thua lỗ, khoảng 120.000 doanh nghiệp phải rời thị trường trong năm 2015 và 6 tháng đầu năm 2016 cho thấy sức khỏe của doanh nghiệp chưa thực sự được phục hồi.

Từ đầu năm, đặc biệt là sau khi Chính phủ mới được kiện toàn, với sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng chính phủ cả ở tầm tư duy, quan điểm, kỷ luật thực thi và chương trình hành động, dường như đang có một làn gió mới của cải cách được hình thành, niềm tin vào môi trường kinh doanh, lại một lần nữa được khơi dậy.

Báo cáo của Chính phủ đã nêu khá đầy đủ những việc mà Chính phủ đã làm và những tác động tích cực đến môi trường kinh doanh. Dù vậy, thời gian còn quá ngắn để tư duy và hành động của Chính phủ minh chứng được kết quả trên thực tiễn. Nhưng quan trọng nhất là niềm tin đã trở lại. Người dân và doanh nghiệp đã “ứng trước” niềm tin cho Chính phủ và để không phụ niềm tin của người dân và doanh nghiệp phải chăng đang là thách thức lớn nhất đối với Chính phủ.

Tôi nhất trí với những nhiệm vụ, giải pháp mà Thủ tướng đã nêu trong báo cáo của mình. Tôi rất mừng, dù chịu áp lực rất lớn là phải đẩy mạnh tăng trưởng, nhưng Chính phủ vẫn kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Khẳng định quan điểm chính sách lấy ổn định kinh tế vĩ mô làm nền tảng cho tăng trưởng. Không chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng bằng mọi giá. Tôi đề nghị Quốc hội ủng hộ quan điểm này của Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành.

Trong chương trình tổng thể, đồng bộ mà Thủ tướng đã nêu, tôi nghĩ, rất cần tập trung hóa giải các nút thắt: chi tiêu chính phủ, nợ công, nợ xấu, cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách thủ tục hành chính… Tôi đề nghị Quốc hội tạo điều kiện cho Chính phủ giải quyết thực chất các vấn đề này.

Phát triển doanh nghiệp là chìa khóa để phát triển quốc gia, tôi đề nghị, Quốc hội ghi nhận trong Nghị quyết của mình mục tiêu mà Chính phủ đề xuất: phấn đấu đến năm 2020, nước ta có một triệu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả… Và Quốc hội có nghị quyết để thúc đẩy, giám sát chương trình cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 của Chính phủ. Quốc hội cần chung tay với Chính phủ vì rất nhiều nội dung trong các chương trình hành động này sẽ không thể thực hiện nếu không được đồng bộ hóa với những nỗ lực của Quốc hội về hoàn thiện hệ thống luật pháp, tăng cường công tác tư pháp và giám sát tối cao.

Các địa phương là tuyến đầu trong phát triển kinh tế, tôi đề nghị Quốc hội, khuyến khích và ủng hộ Chính phủ trong việc thực hiện những mô hình đột phá trong phát triển kinh tế ở các địa phương: các đặc khu kinh tế, các cơ chế thí điểm, cơ chế đặc thù, thực hiện chính quyền điện tử, thành lập các trung tâm dịch vụ hành chính công, các cơ quan xúc tiến và hỗ trợ đầu tư độc lập đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo cấp ủy và chính quyền địa phương, các dự án nâng cấp trụ sở, phương tiện làm việc của các cơ quan chính quyền theo phương thức “Đầu tư tư – Sử dụng công” và đẩy mạnh việc xã hội hóa trong đầu tư phát triển và mở rộng các dịch vụ công ở mọi cấp chính quyền.

Tôi cũng đề nghị, tăng cường đối thoại, nghiên cứu áp dụng kinh nghiệm tốt trong việc phát triển bộ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xuống cấp sở, ban, ngành, quận, huyện và tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp góp ý cho cấp ủy và chính quyền về chất lượng thi hành công vụ của từng cán bộ công chức.

Tôi tin rằng, những mô hình thực tiễn tốt ở các địa phương như đã đề cập ở trên, nếu được triển khai rộng khắp sẽ tạo động lực thúc đẩy cải cách hành chính, cải cách thể chế một cách thiết thực trong thời gian tới.

Xin chân thành cảm ơn Quốc hội !

01/08/2016

Ngày 28/7, tại TP. Vinh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Ngân hàng Việt Nam thịnh vượng (VPBank) tổ chức hội thảo “Giải pháp tài chính để tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệp vào chuỗi giá trị toàn cầu trong bối cảnh hội nhập tại Nghệ An”

Tham dự hội thảo có đại diện các ban ngành, tổ chức xúc tiến thương mại, các hiệp hội doanh nghiệp và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.

Với mục đích tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi giá trị toàn cầu, tại hội thảo, các thành phần tham dự đã được nghe các chuyên gia đến từ tổ chức UNESCAP, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các chuyên gia nước ngoài, Sở Kế hoạch và Đầu tư Nghệ An trình bày các vấn đề liên quan để tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi giá trị toàn cầu; Thực trạng môi trường kinh doanh tại Nghệ An, các chính sách, giải pháp hỗ trợ của tỉnh về cải thiện môi trường kinh doanh trong bối cảnh hội nhập để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

Tiến sỹ Masato Abe - chuyên gia UNESCAP đến từ Nhật Bản - trình bày về cơ hội, thách thức trong bối cảnh hội nhập, các chính sách, giải pháp để hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng cơ hội do các FTA mang lại; Giới thiệu các dịch vụ tài chính hỗ trợ doanh nghiệp của VPBank trong việc giao thương và quản lý dòng tiền; chính sách liên kết trong nông nghiệp và một số mô hình liên kết điển hình; tiến sỹ Jason Kassel-chuyên gia tư vấn từ Hoa Kỳ trình bày tham luận về hội nhập: Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì để tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp có thế mạnh và đặc thù, cơ hội gì khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu? Những chuỗi cung ứng nào phù hợp với tình hình hiện nay, các lưu ý dành riêng cho doanh nghiệp.

Qua hội thảo, các chuyên gia đã phân tích rõ những cơ hội và thách thức của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và AEC, thảo luận những giải pháp khai thác những lợi thế của Nghệ An khi áp dụng các hiệp định thương mại tự do, cũng như chuẩn bị các điều kiện cho tiến trình hội nhập của các doanh nghiệp Nghệ An một cách chủ động và hiệu quả.

Sau hội thảo này, các doanh nghiệp Nghệ An sẽ vận dụng kiến thức tiếp thu được vào hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình để nâng cao năng lực cạnh tranh, tận dụng các cơ hội và hạn chế được những thách thức của các hiệp định tư do mang lại.

19/07/2016

Kiểm tra formaldehyde: Sửa ngay để gỡ khó cho doanh nghiệp dệt may

Suốt 7 năm qua, nhiều doanh nghiệp dệt may bức xúc trước quy định của Bộ Công Thương về kiểm tra hàm lượng formaldehyde và amin thơm chuyển hóa từ thuốc nhuộm azo (gọi tắt là kiểm tra formaldehyde) trong sản phẩm dệt may theo Thông tư 32/2009 và sau đó sửa đổi thành Thông tư 37/2015.

Trong lúc Bộ Công Thương đang lấy ý kiến cộng đồng doanh nghiệp dệt may về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định trong Thông tư 37/2015, thì lại có ý kiến cho rằng, việc ban hành Thông tư này là trái quy định và cần bãi bỏ ngay.

Theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp, quy định kiểm tra hàm lượng formaldehyde và amin thơm trong sản phẩm dệt may gây ra nhiều phiền phức. Mỗi lô hàng vải nhập khẩu về, doanh nghiệp phát sinh thêm phí giám định hàm lượng formaldehyde khoảng 2 triệu đồng/1 mẫu vải.

Thậm chí đối với các lô hàng nhập về làm mẫu chỉ có 5-10 mét vải, doanh nghiệp vẫn phải kiểm định hàm lượng formaldehyde với chi phí 10 USD. Mỗi lô hàng kiểm tra mất từ 7-10 ngày. Như vậy, mỗi năm có hàng nghìn lô hàng phải kiểm tra gây lãng phí thời gian của doanh nghiệp và cơ quan kiểm định. Tốn kém thời gian và chi phí là vậy, nhưng hiệu quả lại chả được bao nhiêu, mà còn thêm rắc rối cho doanh nghiệp.

Bà Nguyễn Thị Khánh, Giám đốc Công ty May 1 Nam Định nêu thực tế: “Công ty có đơn hàng vải nhập khẩu về may mẫu để xuất khẩu sang thị trường Đức. Hàng nhập khẩu cần gấp rút nhưng qua thủ tục kiểm tra này khiến doanh nghiệp mất thêm chi phí và thời gian và khó giải thích cho khách. Việc phát sinh quy trình kiểm tra này không cần thiết, rườm rà, lại ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp”.

Điều đáng chú ý là theo nghiên cứu của nhóm chuyên gia Dự án Quản trị nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện (GIG) và Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Thông tư 37/2015 của Bộ Công Thương quy định kiểm tra hàm lượng formaldehyt và amin thơm trong sản phẩm dệt may là trái quy định.

Bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh (thuộc Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) phân tích, theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Bộ Công Thương chỉ được ban hành các quy định về việc kiểm tra hàm lượng formaldehyt trong sản phẩm dệt may, nếu sản phẩm này thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương.

Tuy nhiên, tại Thông tư số 08/2012 về “Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương” thì sản phẩm dệt may lại không có trong danh mục này. Như vậy, việc ban hành Thông tư 37 của Bộ Công Thương là trái Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Đến ngày 24/11/2015, Bộ Công Thương mới “chữa cháy” bằng cách ban hành Thông tư số 41/2015 thay thế Thông tư số 08/2012, trong đó bổ sung sản phẩm dệt may vào danh mục. Thế nhưng, thực tế là Thông tư 41 ban hành và có hiệu lực sau Thông tư 37.

Bởi vậy, Bà Nguyễn Minh Thảo khẳng định: “Trước đây là Thông tư 32 và nay là Thông tư 37 đều không dựa trên cơ sở pháp lý của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa. Trong 7 năm qua, doanh nghiệp bị kiểm tra liên tục và thường xuyên, gây tốn kém hàng trăm tỷ đồng cho doanh nghiệp và kéo dài thời gian thông quan hàng hóa. Tỷ lệ phát hiện sản phẩm không đạt chỉ chiếm dưới 1%. Như vậy hiệu quả của Thông tư này cần xem xét lại. Chúng tôi thấy rằng cơ sở pháp lý Thông tư 37 không đảm bảo và kiến nghị Bộ Công Thương bãi bỏ Thông tư này.”

Theo Bộ Công Thương, việc ban hành Thông tư 37 quy định kiểm tra hàm lượng formaldehyde và amin thơm là để bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, chỉ có dưới 1% hàng hóa mắc lỗi cho thấy, để bảo vệ người tiêu dùng mà lựa chọn kiểm tra hàm lượng formaldehyde là không hiệu quả.

Trước những bất cập này, mới đây, Bộ Công Thương đã làm việc với Tập đoàn dệt may Việt Nam và Hiệp hội dệt may Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 37/2015. Bộ Công Thương cho biết đang lấy ý kiến các đơn vị liên quan để hoàn thiện Dự thảo Thông tư sửa đổi.

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, Hiệp hội kiến nghị bỏ Thông tư 37 để tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhập khẩu các sản phẩm vải từ nước ngoài về không phải kiểm tra formaldehyde.

“Lý do là khách hàng họ đặt vải của nhà sản xuất, kiểm định chất lượng và đã chịu trách nhiệm về việc đó nên không cần phải làm việc đó nữa. Nếu kiểm tra chỉ kiểm xác xuất một lô vải nhất định để giảm chi phí và thời gian của doanh nghiệp. Những sản phẩm nhập khẩu sử dụng trong nước nên kiểm tra còn sản phẩm nhập khẩu cho xuất khẩu thì không nên”.

Chính phủ mới ban hành Nghị quyết 35/2016 về hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó nhấn mạnh, các cơ quan chức năng cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Trong bối cảnh này, một thông tư gây nhiều bức xúc đối với cộng đồng doanh nghiệp vì gây tốn kém thời gian, tiền của, chưa kể là còn những bất cập trong quá trình ban hành, thì rõ ràng phải được nghiên cứu, xem xét sửa đổi cho phù hợp thực tiễn. Có như vậy mới tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và nâng cao được sức cạnh tranh./.

12/07/2016

Bị truy thu thuế gần 5,5 tỷ đồng, Formosa đã 'tâm phục, khẩu phục'

Phóng viên TBTCVN đã có cuộc trò chuyện cùng ông Đào Chí Thành, Chi cục trưởng Chi cục sau thông quan (Cục Hải quan Hà Tĩnh) – một trong những thành viên trực tiếp tham gia cùng đoàn công tác.

PV: Vừa qua, dư luận đã sôi sục vì việc cá chết hàng loạt ở các tỉnh miền Trung do sự cố xả thải khi vận hành thử của Công ty Formosa rồi tiếp đến là sự việc Công ty Formosa bị truy thu thuế gần 5,5 tỷ đồng. Ông có thể cho biết, việc này được phát hiện như thế nào?
Ông Đào Chí Thành: Thực tế, việc kiểm tra Công ty Formosa được thực hiện theo định kỳ và trong quá trình làm việc, chúng tôi đã phát hiện ra sai sót từ doanh nghiệp này.

Trước đó, xác định Dự án Khu liên hợp gang thép Formosa và Cảng Sơn Dương Hà Tĩnh là một dự án trọng điểm, có quy mô lớn nên khối lượng và chủng loại hàng hóa xuất nhập khẩu của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh nhập khẩu tương đối nhiều.

Vì vậy, cơ quan hải quan đã tiến hành kiểm tra toàn bộ hồ sơ liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) của Công ty Formosa trong thời hạn 5 năm (giai đoạn 2010-2015).

Từ kết quả kiểm tra cho thấy, về cơ bản công ty đã tuân thủ tốt pháp luật hải quan, pháp luật thuế. Tuy nhiên, qua kiểm tra hồ sơ, tài liệu kỹ thuật và khảo sát thực tế tại chân công trình, đoàn kiểm tra đã xác định mặt hàng kết cấu thép tiền chế dạng tháp và các bộ phận rời kèm theo dùng để lắp ghép nhà xưởng, doanh nghiệp đã kê khai, áp mã hồ sơ chưa đúng với quy định hiện hành, dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp.

Cơ quan hải quan đã làm việc với doanh nghiệp để xác định mã hồ sơ của mặt hàng trên theo đúng quy định và tiến hành áp lại mã số hàng hóa của mặt hàng "kết cấu thép tiền chế dạng tháp và các bộ phận rời kèm theo dùng để lắp ghép nhà xưởng" của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh để tiến hành truy thu thuế.

Trên cơ sở kết quả kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp, Tổng cục Hải quan đã ban hành Quyết định số 1183/QĐ-TCHQ ngày 28/4/2016 về việc ấn định thuế đối với mặt hàng nhập khẩu của công ty. Cụ thể, Công ty Formosa đã bị truy thu 4.988.823.207 đồng tiền thuế nhập khẩu và 498.882.320 đồng thuế GTGT.

Tổng số tiền thuế mà công ty bị truy thu là 5.487.705.527 đồng. Ngoài ra, Công ty Formosa còn phải nộp số tiền phạt chậm trên mức thuế bị truy thu và bị cơ quan hải quan xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

PV: Thưa ông, sau hơn một tháng Tổng cục Hải quan ra quyết định, Công ty Formosa đã nộp số tiền bị truy thu và số tiền phạt chậm trên mức thuế bị truy thu chưa?

Ông Đào Chí Thành: Sau khi có quyết định truy thu, Công ty Formosa đã nộp đầy đủ số tiền bị truy thu vào NSNN trung ương. Đồng thời, số tiền phạt chậm trên mức thuế bị truy thu bị cơ quan hải quan xử phạt vi phạm hành chính cũng được Công ty Formosa nghiêm túc thực hiện.

PV: Trong quá trình thực hiện kiểm tra Công ty Formosa, cơ quan quản lý có gặp khó khăn gì không, thưa ông?

Ông Đào Chí Thành: Trong quá trình 10 ngày thanh tra tại Công ty Formosa, đoàn công tác phải ăn nằm trực tiếp ở đó. Tôi cũng là một trong những thành viên được tham gia trực tiếp. Trong quá trình làm việc, tôi thấy phía Công ty Formosa luôn chấp hành tốt mọi yêu cầu của cơ quan chức năng, chấp hành đầy đủ các quy định về pháp luật.

Với khoảng 7 đến 8 nghìn bộ tờ khai là một khối lượng giấy tờ khổng lồ mà người bình thường nhìn qua đã thấy sợ và cũng rất khó để xác định được phải bắt đầu từ đâu. Nhưng với sự nỗ lực, đoàn kiểm tra đã làm rõ ràng từng hạng mục một và buộc Công ty Formosa phải “tâm phục khẩu phục”.

Tuy nhiên, trong quá trình làm việc, khó khăn nhất vẫn là bất đồng ngôn ngữ. Nhiều lúc phía Công ty Formosa nói tiếng Đài Loan mà công việc cần nhiều thuật ngữ chuyên môn làm cho đoàn công tác khó hiểu hoặc đôi lúc, đôi từ hiểu chưa đúng dẫn đến khó khăn trong công tác tiếp cận hồ sơ. Song, khó khăn này dần được khắc phục bởi sự nỗ lực của đoàn công tác và sự hỗ trợ tích cực từ phía Công ty Formosa.

PV: Thưa ông, vậy 6 tháng đầu năm 2016, ngoài việc kiểm tra Công ty Formosa, Chi cục đã tiến hành kiểm tra được bao nhiêu cuộc?

Ông Đào Chí Thành: Trong năm 2016, Chi cục Kiểm tra sau thông quan (Cục Hải quan Hà Tĩnh) được giao kiểm tra 18 cuộc tại các trụ sở doanh nghiệp và 6 tháng đầu năm Chi cục đã tiến hành kiểm tra được 9 doanh nghiệp, truy thu được hơn 400 triệu đồng tiền thuế. Dự kiến từ nay đến hết năm, Chi cục sẽ tiến hành kiểm tra các đơn vị còn lại và đạt kế hoạch đề ra theo đúng quy định.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

08/07/2016

Tôn màu nhập khẩu có thể bị áp dụng biện pháp tự vệ

Theo đó, hàng hóa thuộc đối tượng điều tra là thép hợp kim hoặc không hợp kim cán nguội, tráng hoặc mạ hợp kim nhôm/kẽm được phủ sơn (tôn lạnh màu); thép hợp kim hoặc không hợp kim cán nguội, tráng hoặc mạ kẽm được phủ sơn (tôn kẽm màu); thép hợp kim hoặc không hợp kim cán nguội được phủ sơn (tôn đen màu) ở dạng cuộn, tấm băng hoặc cán sóng với các mã HS như sau: 7210.7010, 7210.7090, 7212.4010, 7212.4020, 7212.4090, 7225.9990, 7226.9919, 7226.9999.

Quyết định điều tra được ban hành dựa trên đơn yêu cầu của 3 doanh nghiệp là Công ty CP Đại Thiên Lộc, Công ty CP Thép Nam Kim, Công ty CP Tôn Đông Á. Nguyên đơn là nhóm 3 doanh nghiệp trên đã lập hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ với mặt hàng tôn màu chiếm 25,17% tổng sản lượng được sản xuất trong nước.

Như vậy, nguyên đơn đã đáp ứng được yêu cầu về tỉ lệ đại diện (25% tổng sản lượng hàng hóa tương tự sản xuất trong nước) theo quy định của Pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQH10.

Theo số liệu bên nguyên đơn cung cấp, có dấu hiệu cho thấy mặt hàng tôn màu nhập khẩu gia tăng đột biến trong giai đoạn 2013-2015 cả về giá trị tương đối và tuyệt đối.

Điều này đã gây thiệt hại cho nguyên đơn như sản lượng sản xuất giảm; hệ số sử dụng công suất giảm; thị phần, doanh thu, lợi nhuận, lao động đều giảm; tồn kho tôn màu tăng, chi phí sản xuất tăng nhưng giá bán không tăng. Ngoài ra, còn có mối quan hệ nhân-quả giữa hàng nhập khẩu gia tăng đột biến và thiệt hại nghiêm trọng gây ra cho nguyên đơn.

Căn cứ Điều 20 của Pháp lệnh về tự vệ, Bộ Công Thương có thể ra quyết định áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời trước khi kết thúc điều tra nếu xét thấy việc chậm thi hành các biện pháp tự vệ gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước và thiệt hại đó khó có thể khắc phục về sau.

Vì vậy, Bộ Công Thương khuyến cáo các doanh nghiệp trong quá trình ký kết hợp đồng nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng điều tra cần lưu ý về khả năng biện pháp tự vệ tạm thời sẽ được áp dụng.

Trước đó, hồi tháng 3/2016, Bộ Công Thương đã ban hành quyết định áp thuế tự vệ tạm thời đối với phôi thép và thép dài nhập khẩu vào Việt Nam với mức thuế lần lượt là 23,3% và 14,2%. Thời gian áp dụng trong thời gian 200 ngày, kể từ 22/3.

04/07/2016

Bộ KHĐT: Vướng mắc từ 6 thủ tục vẫn ‘hành’ DN

Nghị quyết 19 ngày 12/3/2015 và Nghị quyết 19-2016 của Chính phủ đều yêu cầu và đặt trọng tâm “cải cách toàn diện các quy định về quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu”. Lý do, quản lý, kiểm tra chuyển ngành quá mức cần thiết đang là lực cản cơ bản đối với cải cách cải thiện chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới – một trong 10 chỉ số chủ chốt về môi trường kinh doanh, làm tăng chi phí bất hợp lý và tạo gánh nặng hành chính quá mức đối với doanh nghiệp.
Tuy nhiên, theo Bộ KHĐT, thực tế cho thấy vẫn tồn tại khá nhiều vấn đề, khó khăn và vướng mắc của doanh nghiệp đã được phát hiện, phản ánh nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, nhưng vẫn chưa được giải quyết, gây bức xúc cho doanh nghiệp.

Bất cập dán nhãn năng lượng

Thông tư số 07/2012/TT-BCT quy định dán nhãn năng lượng cho các phương tiện và thiết bị sử dụng năng lượng. Mục đích dán nhãn năng lượng là để khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Tuy nhiên, quy định và việc thực thi trên thực tế còn nhiều bất hợp lý, gây khó khăn, tốn kém cho doanh nghiệp và có thể chưa đạt được mục tiêu quản lý nhà nước.

Cụ thể là, có quy định tại Thông tư trái Luật Năng lượng; hồ sơ, giấy tờ quá nhiều, trong đó nhiều loại giấy tờ, doanh nghiệp nhập khẩu rất khó, thậm chí không thể đáp ứng được; có thủ tục đưa ra không rõ ràng, không cụ thể, không hợp lý; xử lý thủ tục hành chính chủ yếu là thủ công.

Hàng trăm tỷ đồng cho kiểm tra formaldehyt

Do những bất cập trong quy định của Thông tư số 32/2009/TT-BCT về kiểm tra hàm lượng formaldehyt trong sản phẩm dệt may, Nghị quyết 19 ngày 12/3/2015 đã yêu cầu Bộ Công thương sửa đổi, bổ sung Thông tư 32. Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 37/2015/TT-BCT thay thế Thông tư 32.

Tuy vậy, theo ý kiến của Hiệp hội Dệt may và một số doanh nghiệp có liên quan thì Thông tư số 37 chưa thực sự tạo thuận lợi, mà trái lại còn gây khó khăn, làm tăng thêm chi phí cho doanh nghiệp.

Ví dụ trong tháng 3 và tháng 4 năm 2016, có doanh nghiệp dệt may nhập khẩu 96 hàng mẫu, với trọng lượng và giá trị là rất nhỏ. Có hàng mẫu (vải) chỉ 5-10m với giá trị chỉ khoảng 100.000-200.000 đồng, nhưng phí kiểm tra formaldehyt mà doanh nghiệp phải trả là 2 triệu đồng, cao gấp 10-20 lẩn giá trị hàng mẫu.

Nhìn xa hơn, suốt 7 năm áp dụng kiểm tra formaldehyt cho thấy chỉ có một tỷ lệ nhỏ không đáng kể lô hàng không đạt hàm lượng quy định và chưa phát hiện bất cứ trường hợp nào bị ảnh hưởng về sức khoẻ do hàm lượng formaldehyt cao quá mức quy định. Trong khi đó, 7 năm qua, doanh nghiệp phải trả hàng trăm tỉ đồng chi phí cho việc kiểm tra formaldehyt, thời gian thông quan hàng hoá bị kéo dài.

Thủ tục xác nhận khai báo hóa chất: Trái luật?

Khoản 11 Điều 1 Nghị định 26/2011/NĐ-CP và Thông tư 40/2011/TT-BCT quy định về “Xác nhận khai báo hoá chất” do Bộ Công thương cấp.

Bộ KHĐT khẳng định quy định này là trái với Luật Hoá chất 2007. Luật này chỉ quy định doanh nghiệp phải khai báo, Bộ Công thương quy định biểu mẫu khai báo, không có quy định yêu cầu phải có xác nhận khai báo đó của doanh nghiệp.

Ngoài ra, quy định về “xác nhận khai báo hoá chất” không có ý nghĩa về quản lý nhà nước, gây tốn kém chi phí cho doanh nghiệp, kéo dài thời gian thông quan trong trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất.

Từ năm 2015, phí xác nhận khai báo hoá chất là 200.000 đồng/giấy xác nhận. Theo một khảo sát năm 2015 của Dự án GIG (USAID), mỗi năm Cục Hoá chất cấp khoảng trên 50.000 Giấy xác nhận khai báo hóa chất, mất thời gian 1-3 ngày/lô hàng. Như vậy, việc xác nhận khai báo hóa chất theo quy định hiện hành đã làm cho doanh nghiệp tốn mất 50.000 đến 150.000 ngày làm việc/năm và khoản chi phí chính thức là khoảng 10 tỷ đồng.

Gánh nặng thủ tục kiểm dịch bông

Trong năm 2015, Việt Nam nhập khẩu trên 1 triệu tấn bông xơ, với khoảng 20 tấn/container, tổng cộng đã có khoảng 50.000 container bông được nhập khẩu. Với tỷ lệ lấy mẫu kiểm dịch trung bình 35% thì lượng container bông phải lấy mẫu kiểm dịch thực vật năm 2015 lên đến 17.000 - 18.000 container. Với mức chi phí kiểm dịch là 1 triệu đồng/container thì tổng chi phí kiểm dịch thực vật lên đến 17 – 18 tỷ đồng/ năm.

Theo Bộ KHĐT, đây là gánh nặng rất lớn về chi phí, nhân công và thời gian của doanh nghiệp, và do vậy làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Trong khi đó, theo phản ánh của các doanh nghiệp, thời gian qua, tất cả các lô bông nhập khẩu phải kiểm dịch thực vật không phát hiện ra sâu bọ, côn trùng hoặc mầm bệnh gây hại.

Hơn nữa, bông sợi là một sản phẩm nông nghiệp nhưng đã qua quy trình chế biến công nghiệp. Trước đây, bông xơ không phải thực hiện kiểm dịch thực vật. Khoảng 4 năm trước, do có 1-2 lô bông nhập khẩu từ Pakistan về Việt Nam trong mùa mưa, bông bị ướt và sinh ra bọ. Từ thời điểm đó, Bộ NNPTNT thực hiện áp dụng quy trình kiểm dịch thực vật đối với bông nhập khẩu với Thông tư 30/2014/TT-BNNPTNT và Thông tư 33/2014/TT-BNNPTNT.

Về ghi nhãn hàng hóa với nguyên liệu nhập khẩu để chế biến xuất khẩu

Thời gian qua, một số doanh nghiệp thủy sản đã bị các Đoàn kiểm tra quản lý thị trường xử phạt với lý do nguyên liệu thủy sản nhập khẩu (để chế biến xuất khẩu) lưu tại kho của doanh nghiệp chỉ có nhãn tiếng Anh, không có nhãn phụ tiếng Việt. Nội dung ghi nhãn hàng hóa được quy định tại Nghị định 89/2006/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT.

Bộ KHĐT cho rằng việc áp dụng ghi nhãn phụ tiếng Việt đối với trường hợp này là không cần thiết, không hợp lý bởi nếu nguyên liệu không lưu thông, tiêu thụ trong nước thì việc yêu cầu ghi nhãn phụ tiếng Việt không có ý nghĩa về quản lý nhà nước, lại phiền hà về thủ tục, tốn kém về thời gian và chi phí của doanh nghiệp.

Về thủ tục công bố hợp quy và công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm với nguyên liệu nhập khẩu để chế biến xuất khẩu

Theo Điều 3 Nghị định 38/2012/NĐ-CP, đối với trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu để gia công, chế biến hàng xuất khẩu, không lưu thông, tiêu thụ trong nước thì không phải thực hiện công bố hợp quy, công bố phù hợp quy định an tòan thực phẩm.

Tuy nhiên, trên thực tế, doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu để gia công, chế biến hàng xuất khẩu vẫn phải thực hiện thủ tục này với Bộ Y tế, gây tốn kém về thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.

Theo phản ánh của Hiệp hội Thủy sản và một số doanh nghiệp liên quan, để có được giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy do Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cấp (trên cơ sở kết quả kiểm nghiệm do doanh nghiệp cung cấp) tốn trung bình 22-27 ngày làm việc và chi phí 500.000 đồng/sản phẩm.

Thời gian cấp giấy tiếp nhận kéo dài và việc cấp giấy tiếp nhận chỉ được thực hiện ở Bộ Y tế là không đúng theo tinh thần cải cách quản lý chuyên ngành của Nghị quyết 19 nhằm giảm thời gian, giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Nga kéo dài lệnh cấm nhập khẩu thực phẩm từ EUNgày 29/6, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký sắc lệnh kéo dài lệnh cấm n...
30/06/2016

Nga kéo dài lệnh cấm nhập khẩu thực phẩm từ EU

Ngày 29/6, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký sắc lệnh kéo dài lệnh cấm nhập khẩu thực phẩm từ Liên minh châu Âu (EU) và một số nước khác nhằm đáp trả các lệnh trừng phạt mà phương Tây nhằm vào Nga

Theo sắc lệnh của Tổng thống, các biện pháp hạn chế kinh tế đặc biệt đối với phương Tây sẽ được kéo dài từ ngày 6/8/2016 đến hết năm 2017, nhằm đảm bảo “an ninh quốc gia Nga”.

Trước đó, Liên minh châu Âu (EU) cũng đã gia hạn thêm một năm các biện pháp trừng phạt Nga, được áp đặt sau khi Crimea sáp nhập vào Nga tháng 3/2014.

Ngoài các biện pháp cấm vận kinh tế, đầu năm 2014, EU cũng áp đặt một loạt lệnh cấm thị thực và đóng băng tài sản đối với một số người Nga liên quan đến cuộc xung đột Ukraine.

Các biện pháp trừng phạt đáp trả được Nga công bố tháng 8/2014, theo đó cấm nhập khẩu thực phẩm từ các nước phương Tây trong vòng 1 năm. Các lệnh trừng phạt này từng được gia hạn thêm 1 năm vào tháng 6/2015./.

Address

Hanoi

Opening Hours

Monday 08:00 - 05:30
Tuesday 08:00 - 05:30
Wednesday 08:00 - 05:30
Thursday 08:00 - 05:30
Friday 08:00 - 05:30
Saturday 08:00 - 05:30
Sunday 08:00 - 05:30

Telephone

04 38524422

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when WanDelet posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share