12/09/2022
THẾ NÀO LÀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1. Khái niệm quỹ đầu tư chứng khoán
- Tại Việt Nam đang có nhiều quỹ đầu tư khác nhau như: Quỹ đầu tư và phát triển, Quỹ đầu tư mạo hiểm, Quỹ đầu tư chứng khoán. Nổi bật nhất, quỹ đầu tư chứng khoán được rất nhiều nhà đầu tư lựa chọn.
*Vậy đối với quỹ đầu tư chứng khoán được pháp luật quy định cụ thể và phân loại như thế nào?
- Căn cứ tại khoản 37, Điều 4 Luật Chứng khoán 2019:
"Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích thu lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc vào các tài sản khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hằng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ."
2. Phân loại quỹ đầu tư chứng khoán
Hiện nay, trên thế giới và kể cả Việt Nam có rất nhiều loại hình quỹ đầu tư căn cứ theo các tiêu chí phân loại khác nhau. Quy định của pháp luật Việt Nam cũng định nghĩa một số khái niệm về các loại quỹ đầu tư rất cụ thể.
2.1 Căn cứ vào nguồn vốn huy động:
Căn cứ tại Khoản 1 Điều 99 Luật Chứng khoán 2019, các loại hình quỹ đầu tư chứng khoán gồm: quỹ đại chúng và quỹ thành viên.
a. Quỹ đại chúng (Quỹ đầu tư tập thể)
Căn cứ tại khoản 38, Điều 4 Luật Chứng khoán 2019, quỹ đại chúng là: "quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng."
- Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng. Nhà đầu tư có thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ. Quỹ công chúng cung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp của đầu tư mang lại.
- Quỹ đại chúng bao gồm quỹ đóng và quỹ mở.
b. Quỹ đầu tư cá nhân (Quỹ thành viên)
Căn cứ tại khoản 41, Điều 4 Luật Chứng Khoán 2019, quỹ thành viên là: "quỹ đầu tư chứng khoán có số thành viên tham gia góp vốn từ 02 đến 99 thành viên và chỉ bao gồm thành viên là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp."
- Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, có thể được lựa chọn trước, là các cá nhân hay các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ công chúng. Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường với lượng vốn lớn, và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ.
2.2 Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn:
a. Quỹ đóng
Căn cứ theo khoản 40, Điều 4 Luật Chứng khoán 2019, quỹ đóng: "là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư."
- Quỹ đóng là quỹ có thời gian hoạt động giới hạn và không cho phép nhà đầu tư bán lại chứng chỉ quỹ cho quỹ.
- Đây là hình thức quỹ phát hành chứng chỉ quỹ một lần duy nhất khi tiến hành huy động vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/chứng chỉ đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại. Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ sẽ được niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn đầu tư của mình thông qua thị trường thứ cấp. Chứng chỉ quỹ có thể được giao dịch thấp hoặc cao hơn giá trị tài sản ròng của Quỹ (NAV).
b. Quỹ mở
Căn cứ theo khoản 39, Điều 4 Luật Chứng khoán 2019, quỹ mở là: " là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư."
- Quỹ mở có thời gian hoạt động tùy thuộc vào quyết định của ban điều hành quỹ và cho phép nhà đầu tư bán lại chứng chỉ quỹ cho quỹ.
- Sau đợt phát hành lần đầu ra công chúng, giao dịch mua/bán của nhà đầu tư được thực hiện định kỳ căn cứ vào giá trị tài sản ròng (NAV). Giao dịch này được thực hiện trực tiếp với công ty Quản Lý Quỹ hoặc tại các Đại lý chỉ định.
Khác với quỹ đóng, tổng vốn của quỹ mở biến động theo từng đợt giao dịch do tính chất đặc thù của nó – là nhà đầu tư được quyền bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho quỹ, và quỹ phải mua lại các chứng chỉ theo giá trị ròng vào thời điểm giao dịch. Đối với hình thức quỹ này, các giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện trực tiếp với công ty quản lý quỹ và các chứng chỉ quỹ không được niêm yết trên thị trường chứng khoán.
2.3 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ
a. Quỹ đầu tư dạng công ty:
Trong mô hình này, quỹ đầu tư là một pháp nhân, tức là một công ty được hình thành theo quy định của pháp luật từng nước. Cơ quan điều hành cao nhất của quỹ là hội đồng quản trị do các cổ đông (nhà đầu tư) bầu ra, có nhiệm vụ chính là quản lý toàn bộ hoạt động của quỹ, lựa chọn công ty quản lý quỹ và giám sát hoạt động đầu tư của công ty quản lý quỹ và có quyền thay đổi công ty quản lý quỹ. Trong mô hình này, công ty quản lý quỹ hoạt động như một nhà tư vấn đầu tư, chịu trách nhiệm tiến hành phân tích đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và thực hiện các công việc quản trị kinh doanh khác. Mô hình này chưa xuất hiện ở Việt Nam bởi theo quy định của UBCKNN, quỹ đầu tư không có tư cách pháp nhân.
b. Quỹ đầu tư dạng hợp đồng:
Đây là mô hình quỹ tín thác đầu tư. Khác với mô hình quỹ đầu tư dạng công ty, mô hình này quỹ đầu tư không phải là pháp nhân. Công ty quản lý quỹ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành việc huy động vốn, thực hiện việc đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ. Bên cạnh đó, ngân hàng giám sát có vai trò bảo quản vốn và các tài sản của quỹ, quan hệ giữa công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát được thể hiện bằng hợp đồng giám sát trong đó quy định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong việc thực hiện và giám sát việc đầu tư để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư. Nhà đầu tư là những người góp vốn vào quỹ (nhưng không phải là cổ đông như mô hình quỹ đầu tư dạng công ty) và ủy thác việc đầu tư cho công ty quản lý quỹ để bảo đảm khả năng sinh lợi cao nhất từ khoản vốn đóng góp của họ.
3. Lợi ích của các quỹ đầu tư
Đối với những nhà đầu tư mới tham gia chưa có đầy đủ kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cũng như chưa có kinh nghiệm đầu tư thực chiến thì việc lựa chọn các quỹ đầu tư sẽ giúp các nhà đầu tư có những lựa chọn tốt nhất, giảm thiểu rủi ro và mang lại những nguồn lợi tốt nhất chọn các nhà đầu tư. Chúng ta có thể điểm qua một vài lợi ích như:
- Tiết kiệm thời gian và công sức: Khi đầu tư vào quỹ sẽ có các chuyên gia của quỹ đảm nhận công tác chọn lựa loại hình đầu tư, phân tích nhận định thị trường. Do đó, nhà đầu tư có thể hoàn toàn yên tâm thực hiện các công việc khác của mình.
- Đáp ứng nhiều mục tiêu đầu tư khác nhau: quỹ luôn có các sản phẩm phù hợp để đáp ứng và giúp nhà đầu tư tiếp cận các nghiệp vụ đầu tư phù hợp với mục tiêu đầu tư và số vốn của nhà đầu tư, mà cá nhân không thể thực hiện như đầu tư vào thị trường trái phiếu, đầu tư vào các bộ chỉ số.
- Tính linh hoạt và thanh khoản cao: So với các loại hình đầu tư khác như bất động sản hay vàng phải đòi hỏi vốn lớn và không dễ bán ngay khi cần, đầu tư vào quỹ và hiện thực hóa lợi nhuận thuận tiện và bất cứ lúc nào bằng cách mua / bán chứng chỉ quỹ thông qua đại lý phân phối hoặc với chính công ty quản lý quỹ.
- Quản lý rõ ràng và minh bạch: Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước và ngân hàng giám sát độc lập sẽ giám sát và bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư