24/09/2026
✨HẬU QUẢ PHÁP LÝ KHI ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TRÁI QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
Khi người sử dụng lao động hoặc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật sẽ phải chịu các hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật. Vậy đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là gì? Khi nào bị coi là trái pháp luật? Và người lao động, người sử dụng lao động được bảo vệ như thế nào trong trường hợp bị bên còn lại đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật?
🌞I. Đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật là gì?
Theo Điều 39 Bộ luật lao động 2019, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật xảy ra khi một bên chấm dứt hợp đồng lao động không tuân thủ đúng các quy định tại Điều 35, 36 và 37 của Bộ luật này:
- Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không tuân thủ về thời hạn thông báo trước;
- Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không báo trước dù không thuộc trường hợp được phép không cần báo trước;
- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không thuộc trường hợp pháp luật quy định được phép thực hiện đơn phương hoặc thuộc trường hợp pháp luật không cho phép đơn phương chấm dứt.
Nói cách khác, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là khi một bên thực hiện việc chấm dứt hợp đồng lao động mà không thuộc các trường hợp được phép đơn phương chấm dứt hoặc không đáp ứng các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, thì sẽ được coi là trái pháp luật.
💌II. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
- Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động theo thời hạn được quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật lao động 2019 như sau:
(i) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
(ii) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
(iii) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;
(iv) Riêng đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù (như người quản lý doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, …) thì thời hạn báo trước được thực hiện theo Điều 7 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 là ít nhất 120 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên; ít nhất bằng một phần tư thời hạn của hợp đồng lao động đối với hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng.
- Ngoài ra, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật lao động 2019 như không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này; không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này; bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động; bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này; đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động. Khi thuộc một trong các trường hợp này, người lao động không bị coi là vi phạm quy định về chấm dứt hợp đồng trái pháp luật khi không báo trước cho người sử dụng lao động.
⭐III. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
- Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người lao động theo thời hạn được quy định tại khoản 2 Điều 36 Bộ luật lao động 2019 như sau:
(i) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
(ii) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
(iii) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
(iv) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù (như người quản lý doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, …) thì thời hạn báo trước được thực hiện theo Điều 7 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 tức là ít nhất 120 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên; ít nhất bằng một phần tư thời hạn của hợp đồng lao động đối với hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng.
- Ngoài ra, người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong các trường hợp tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật lao động 2019 như sau:
(i) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này: “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động phải có mặt tại nơi làm việc và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng lao động đã giao kết nếu hợp đồng lao động còn thời hạn, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác”;
(ii) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên. Khi thuộc một trong các trường hợp Khoản này, người sử dụng lao động không bị coi là vi phạm quy định về chấm dứt hợp đồng trái pháp luật khi không báo trước cho người lao động.
⚡IV. Hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
- Đối với người lao động: Khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, họ sẽ phải gánh chịu các hậu quả pháp lý theo quy định tại Điều 40 Bộ luật lao động 2019, như sau:
+ Không được hưởng trợ cấp thôi việc;
+ Phải bồi thường cho người sử dụng lao động một nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động cho những ngày không báo trước;
+ Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật lao động.
- Đối với người sử dụng lao động: Khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, họ sẽ phải chịu các hậu quả pháp lý theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động 2019, như sau:
+ Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã ký. Trong thời gian người lao động không được làm việc, người sử dụng lao động phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
● Khi người lao động được nhận lại làm việc, họ sẽ hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận.
● Nếu vị trí hoặc công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động không còn và người lao động vẫn muốn tiếp tục làm việc thì hai bên sẽ thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
● Nếu vi phạm quy định về thời gian báo trước nêu trên, người sử dụng lao động phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
+ Nếu người lao động không muốn tiếp tục làm việc, ngoài khoản tiền phải trả nêu trên, người sử dụng lao động còn phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
+ Trong trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả nêu trên và trợ cấp thôi việc, hai bên có thể thỏa thuận thêm một khoản tiền bồi thường cho người lao động, nhưng ít nhất bằng 02 tháng lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
⇨ Có thể thấy, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động, mà còn làm phát sinh các hậu quả pháp lý bất lợi cùng trách nhiệm bồi thường thiệt hại nặng nề. Do đó, để hạn chế tối đa các tranh chấp lao động phức tạp và giảm thiểu rủi ro pháp lý, cả người lao động và người sử dụng lao động cần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, nắm vững các quy định về căn cứ, trình tự và thủ tục đơn phương chấm dứt hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.