19/01/2026
Khi nào cần tầm soát ung thư phụ khoa?
Dựa vào tình trạng sức khỏe hiện tại và tiền sử bệnh lý của từng nữ giới, phương pháp tầm soát ung thư phụ khoa được các chuyên gia khuyến nghị nên bắt đầu thực hiện vào các độ tuổi sau:
1. Ung thư cổ tử cung
Nữ giới dưới 21 tuổi: Ở độ tuổi này thì chị em không cần thực hiện xét nghiệm sàng lọc tế bào ung thư cổ tử cung.
Nữ giới từ 21 đến 29 tuổi: Trong giai đoạn này, phụ nữ nên chủ động thực hiện tầm soát sớm để kiểm tra tình trạng các cơ quan sinh lý. Đồng thời, chị em nên làm xét nghiệm PAP Smear 3 năm/ lần. Bên cạnh đó, nữ giới cũng có thể sàng lọc ung thư phụ khoa khi 25 tuổi bằng xét nghiệm HPV.
Phụ nữ trung niên từ 30 đến 65 tuổi: Giai đoạn từ 30 tuổi đến 65 tuổi là độ tuổi phụ nữ dễ bị bệnh phụ khoa nhất nếu không thực hiện tầm soát. Chị em có thể thực hiện xét nghiệm HPV hay kết hợp với PAP 5 năm/lần.
Phụ nữ trên 65 tuổi: Nếu có kết quả xét nghiệm bình thường trong 10 năm gần nhất, chị em có thể cân nhắc dừng xét nghiệm. Tuy nhiên, trường hợp phụ nữ có tiền sử bệnh lý hoặc các yếu tố nguy cơ cao khác nên tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi quyết định thực hiện.
2. Ung thư buồng trứng và tử cung
Tầm soát ung thư buồng trứng và tử cung hiện chưa được thực hiện định kỳ như tầm soát ung thư cổ tử cung do thiếu các xét nghiệm sàng lọc hiệu quả. Tuy nhiên, phụ nữ có nguy cơ cao (như có tiền sử gia đình hoặc đột biến gen BRCA) nên tham khảo ý kiến bác sĩ về thời điểm và phương pháp tầm soát phù hợp.
Phụ nữ mãn kinh hoặc gặp các triệu chứng bất thường (chảy máu âm đạo, đau vùng bụng dưới) nên đi khám sớm để được tầm soát.
3. Ung thư âm đạo và âm hộ
Tầm soát định kỳ cho ung thư âm đạo và ung thư âm hộ thường chưa phổ biến, nhưng phụ nữ cần báo với bác sĩ về bất kỳ triệu chứng bất thường nào (ngứa, sưng, đau hoặc nổi cục u ở vùng kín) để kiểm tra sớm.
Tầm soát ung thư phụ khoa bao gồm những gì?
Tầm soát ung thư phụ khoa là phương pháp hiệu quả giúp phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường và các triệu chứng sớm của ung thư phụ khoa ở các cơ quan sinh sản của phụ nữ. Quá trình này thường bao gồm các bước sau:
banner khám sức khỏe công nghệ cao mb
1. Khám phụ khoa
Bác sĩ sẽ kiểm tra trực quan các cơ quan sinh sản bên ngoài và bên trong của phụ nữ. Chị em nên trao đổi trực tiếp với các bác sĩ về tiền sử sức khỏe hoặc những dấu hiệu bất thường (nếu có). Bác sĩ sẽ thực hiện một số thăm khám lâm sàng và đưa ra các chỉ định cận lâm sàng phù hợp.
2. Chẩn đoán hình ảnh
Một số phương pháp chẩn đoán hình ảnh thường được áp dụng như: Siêu âm tử cung, buồng trứng; chụp X-quang; soi cổ tử cung,… để đánh giá các bệnh lý về tử cung, phần phụ, phát hiện u xơ,… khi chưa có dấu hiệu lâm sàng.
4. Xét nghiệm ung thư phụ khoa
Hiện nay có 3 loại xét nghiệm phổ biến thường được dùng để tầm soát ung thư phụ khoa ở phụ nữ. Cụ thể:
Xét nghiệm Pap Smear: Xét nghiệm PAP Smear hay còn được gọi là xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung, là một xét nghiệm tế bào học được sử dụng để tầm soát và phát hiện sớm các tổn thương ở tế bào cổ tử cung. Bác sĩ sẽ lấy mẫu tế bào cổ tử cung để kiểm tra xem liệu có tế bào nào bất thường không.
Xét nghiệm HPV: Phương pháp xét nghiệm này được dùng để tìm kiếm sự hiện diện của virus HPV (Human Papillomavirus) trong cơ thể, cụ thể là ở vùng cổ tử cung. HPV là loại virus gây ra bệnh lý ung thư nguy hiểm như ung thư cổ tử cung, âm đạo, hậu môn, sùi mào gà,…
Xét nghiệm máu: Xét nghiệm máu là loại xét nghiệm thường được bác sĩ chỉ định bệnh nhân thực hiện để đánh giá chỉ số tumor marker, chẳng hạn như CA-125. Chỉ số này được dùng để theo dõi bệnh ung thư buồng trứng. Thêm vào đó, xét nghiệm máu còn có thể phát hiện ra dấu hiệu của viêm nhiễm, nhiễm trùng ở vùng chậu.
Xét nghiệm ung thư phụ khoa
Xét nghiệm máu là một trong những xét nghiệm thường được thực hiện để tầm soát ung thư phụ khoa
Bên cạnh những phương pháp xét nghiệm đã được đề cập phía trên, sinh thiết cũng là một trong những phương pháp hiệu quả và thường được dùng để chẩn đoán các bệnh lý phụ khoa.
Trong trường hợp phát hiện ra các dấu hiệu bất thường ở các mô tế bào trong khu vực vùng kín, bác sĩ có thể yêu cầu phụ nữ thực hiện sinh thiết (lấy một mẫu mô nhỏ tại khu vực nghi ngờ, đem đi xét nghiệm), nhằm củng cố kết quả chẩn đoán.