Luật sư FDVN tại TP Hồ Chí Minh

Luật sư FDVN tại TP Hồ Chí Minh LUẬT SƯ FDVN TẠI TP HỒ CHÍ MINH Luật sư FDVN tại thành phố Hồ Chí Minh:
122 Đinh Bộ Lĩnh, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

FDVN là hãng luật được thành lập từ năm 2011, chúng tôi đang không ngừng mở rộng các văn phòng ở các địa phương tại Việt Nam nhằm sẵn sàng cung cấp chất lượng dịch vụ pháp lý thuyết phục và tin tưởng cho khách hàng. Luật sư FDVN tại Đà Nẵng:
99 Nguyễn Hữu Thọ, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư FDVN tại Hà Nội:
Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà N

ội

Luật sư FDVN tại Nghệ An:
VP1: 19 Đại lộ Lê Nin, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
VP2: Phường Quỳnh Xuân, Thị xã Hoàng Mai, Nghệ An

Luật sư FDVN tại Huế:
56A Điện Biên Phủ, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn
Email: [email protected]
Điện thoại: 0788 698 666 – 0906 499 446
Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
Kênh Youtube: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
FDVN trên Tik Tok: https://www.tiktok.com/
Kênh Telegram FDVN: https://t.me/luatsufdvn
Legal forum for foreigners in Vietnam: https://www.facebook.com/groups/legalforeignersinvietnam

TỔNG HỢP 268 MẪU VĂN BẢN, ĐƠN TỪ, QUYẾT ĐỊNH TRONG LĨNH VỰC HÌNH SỰ------------FDVN giới thiệu tài liệu “Tổng hợp 268 mẫ...
22/05/2026

TỔNG HỢP 268 MẪU VĂN BẢN, ĐƠN TỪ, QUYẾT ĐỊNH TRONG LĨNH VỰC HÌNH SỰ
------------
FDVN giới thiệu tài liệu “Tổng hợp 268 mẫu văn bản, đơn từ, quyết định trong lĩnh vực Hình sự” do các Luật sư – Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp, dự thảo nhằm hỗ trợ người dân và cán bộ thực thi pháp luật có một bộ công cụ tra cứu nhanh chóng, hiệu quả hơn trong quá trình tiếp cận, thực hiện các thủ tục trong lĩnh vực hình sự phức tạp.

Tài liệu được xây dựng trên cơ sở hệ thống hóa các mẫu văn bản đang được áp dụng theo quy định pháp luật hiện hành đồng thời dự thảo một số mẫu thông dụng thường được sử dụng. FDVN tiến hành lập danh mục, tổng hợp và sắp xếp theo từng giai đoạn tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu, khai thác và áp dụng trong thực tiễn công tác của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nội dung tài liệu bao gồm các nhóm biểu mẫu chủ yếu như:
1. Mẫu các văn bản, đơn từ, quyết định trong giai đoạn tố giác, tin báo về tội phạm;
2. Mẫu các văn bản, đơn từ, quyết định trong giai đoạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can;
3. Mẫu các văn bản, đơn từ, quyết định trong giai đoạn điều tra vụ án;
4. Mẫu các văn bản, đơn từ, quyết định trong giai đoạn truy tố;
5. Mẫu các văn bản, đơn từ, quyết định trong giai đoạn xét xử sơ thẩm;
6. Mẫu các văn bản, đơn từ, quyết định trong giai đoạn xét xử phúc thẩm;
7. Mẫu các văn bản, đơn từ, quyết định trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm;
8. Mẫu các văn bản, đơn từ, quyết định trong giai đoạn thi hành án hình sự.

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

Link đính kèm file các biểu mẫu dưới phần bình luận.
------
Lawyer for foreigners in Vietnam LUẬT SƯ FDVN
Email: [email protected]
☎️ Đường dây nóng: 0772 096 999
📣 Website: www.fdvn.vn
hoặc www.fdvnlawfirm.vn
♥️ Fanpage and Group:
https://www.facebook.com/fdvnlawfirm
https://www.facebook.com/lawyersindanang
https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat
https://www.facebook.com/groups/saymengheluat
https://www.facebook.com/groups/legalforeignersinvietnam
🎵 Kênh Youtube: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
🎵 FDVN trên Tik Tok: https://www.tiktok.com/
☎️ Kênh Telegram FDVN: https://t.me/luatsufdvn









TỔNG HỢP 40 MẪU VĂN BẢN, ĐƠN TỪ VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI--------------...
21/05/2026

TỔNG HỢP 40 MẪU VĂN BẢN, ĐƠN TỪ VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
---------------

THÔNG BÁO SỐ 113/TB-VKSTC RÚT KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VỤ ÁN HÌNH SỰ TÒA ÁN XÉT XỬ KHÔNG ĐÚNG TỘI DANH-----------Khi phân biệ...
20/05/2026

THÔNG BÁO SỐ 113/TB-VKSTC RÚT KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VỤ ÁN HÌNH SỰ TÒA ÁN XÉT XỬ KHÔNG ĐÚNG TỘI DANH
-----------
Khi phân biệt tội “Tham ô tài sản” với các tội chiếm đoạt tài sản khác, cần đặc biệt chú ý làm rõ tư cách chủ thể của người thực hiện hành vi. Đối với tội “Tham ô tài sản”, người phạm tội phải là người có chức vụ, quyền hạn và được giao quản lý tài sản theo quy định tại Điều 352 và Điều 353 BLHS. Trường hợp người thực hiện hành vi không còn quan hệ công tác, lao động hoặc không được giao nhiệm vụ, quyền hạn hợp pháp thì không thuộc chủ thể của tội “Tham ô tài sản”. Đồng thời, nếu việc giao tài sản xuất phát từ quan hệ dân sự, sự quen biết, tin tưởng cá nhân hoặc thỏa thuận riêng thì cần thận trọng khi xem xét, định tội danh “Tham ô tài sản".
------
Lawyer for foreigners in Vietnam LUẬT SƯ FDVN
Email: [email protected]
☎️ Đường dây nóng: 0772 096 999
📣 Website: www.fdvn.vn
hoặc www.fdvnlawfirm.vn
♥️ Fanpage and Group:
https://www.facebook.com/fdvnlawfirm
https://www.facebook.com/lawyersindanang
https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat
https://www.facebook.com/groups/saymengheluat
https://www.facebook.com/groups/legalforeignersinvietnam
🎵 Kênh Youtube: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
🎵 FDVN trên Tik Tok: https://www.tiktok.com/
☎️ Kênh Telegram FDVN: https://t.me/luatsufdvn









TỔNG HỢP 06 BẢN ÁN GIAO CON DƯỚI 36 THÁNG TUỔI CHO CHA TRỰC TIẾP NUÔI DƯỠNG SAU KHI LY HÔN--------Tài liệu này phục vụ c...
19/05/2026

TỔNG HỢP 06 BẢN ÁN GIAO CON DƯỚI 36 THÁNG TUỔI CHO CHA TRỰC TIẾP NUÔI DƯỠNG SAU KHI LY HÔN
--------
Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

Link đính kèm file pdf dưới phần bình luận.
------
Lawyer for foreigners in Vietnam Diễn Đàn Nghề Luật
Email: [email protected]
☎️ Đường dây nóng: 0772 096 999
📣 Website: www.fdvn.vn
hoặc www.fdvnlawfirm.vn
♥️ Fanpage and Group:
https://www.facebook.com/fdvnlawfirm
https://www.facebook.com/lawyersindanang
https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat
https://www.facebook.com/groups/saymengheluat
https://www.facebook.com/groups/legalforeignersinvietnam
🎵 Kênh Youtube: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
🎵 FDVN trên Tik Tok: https://www.tiktok.com/
☎️ Kênh Telegram FDVN: https://t.me/luatsufdvn









[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp về thừa kế tài sản và chia tài sản chung do Tòa sơ thẩm xác định sai quan...
18/05/2026

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án tranh chấp về thừa kế tài sản và chia tài sản chung do Tòa sơ thẩm xác định sai quan hệ pháp luật cần giải quyết
-------
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngày 05/6/2025, Toà án cấp sơ thẩm nhận được Đơn tố cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Hình thức đơn đảm bảo được một phần theo quy định của điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên nội dung đơn thể hiện yêu cầu kháng cáo của đương sự đối với bản án sơ thẩm nên cần chấp nhận và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Trước khi khởi kiện vụ án này bà B đã tiến hành khởi kiện vụ án về Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương đã thụ lý vụ án sơ thẩm số 11/2022/TLST-DS ngày 10/5/2022 và đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 03/02/2023. Tại Bản án số 05/2023/DS-ST ngày 09/02/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương, trong phần quyết định đã thể hiện: … “Xác định diện tích đất 553,2 m² thuộc quyền sử dụng chung của cụ Đặng Thị B và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T2 gồm: Cụ Đặng Thị B, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn H, vợ và các con của ông Nguyễn Văn T1 là bà Phạm Thị D (Nguyễn Thị D1; chị Nguyễn Thị N1, anh Nguyễn Văn Q, chị Nguyễn Thị A”… Bản án trên đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, diện tích 553,2 m² không còn là di sản thừa kế nữa mà là tài sản chung của những người thừa kế. Do đó quan hệ pháp luật phải giải quyết trong vụ dân sự thụ lý số 27/2024/TLST-DS ngày 04/11/2024 phải là yêu cầu chia tài sản chung, trường hợp bà Đặng Thị B khởi kiện yêu cầu chia tài sản thừa kế, trong quá trình thụ lý giải quyết Toà án cấp sơ thẩm phải hướng dẫn đương sự sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản chung theo bản án số Bản án số 05/2023/DS- ST ngày 09/02/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là TAND thành phố Hải Phòng) đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên Toà án cấp sơ thẩm đã xác định sai quan hệ pháp luật cần phải giải quyết, vẫn thụ lý, giải quyết yêu cầu chia tài sản thừa kế và xác định thời hiệu chia di sản thừa kế phần di sản của ông T2 đã hết, nên không chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế của các đương sự. Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.

[3] Trong vụ án này, cấp sơ thẩm còn xác định người liên quan là Bà Phạm Thị D (tên gọi khác là Nguyễn Thị D1), chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Văn Q. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đ, xã G, thành phố Hải Phòng (trước đây là Thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương); Hiện không rõ địa chỉ. Cấp sơ thẩm chỉ niêm yết các văn bản tố tụng tại địa phương. Tuy nhiên việc niêm yết công khai không đảm bảo cho người vắng mặt tại nơi cư trú nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo, nhưng cấp sơ thẩm không làm thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, theo quy định tại Điều 180 của BLTTDS. Như vậy làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

4] Từ phân tích trên, HĐXX phúc thẩm xét thấy cần thiết phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Như vậy, mới có thể đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự trong vụ án. Do hủy bản án sơ thẩm nên yêu cầu kháng cáo về nội dung vụ án HĐXX phúc thẩm không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí phúc thẩm: Do ủy bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 133/2025/DS-PT NGÀY 22/9/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG]

Link bài viết dưới phần bình luận
------
Lawyer for foreigners in Vietnam Diễn Đàn Nghề Luật
Email: [email protected]
☎️ Đường dây nóng: 0772 096 999
📣 Website: www.fdvn.vn
hoặc www.fdvnlawfirm.vn
♥️ Fanpage and Group:
https://www.facebook.com/fdvnlawfirm
https://www.facebook.com/lawyersindanang
https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat
https://www.facebook.com/groups/saymengheluat
https://www.facebook.com/groups/legalforeignersinvietnam
🎵 Kênh Youtube: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
🎵 FDVN trên Tik Tok: https://www.tiktok.com/
☎️ Kênh Telegram FDVN: https://t.me/luatsufdvn









Bản ghi âm có được xem là di chúc hợp pháp không?------TÌNH HUỐNG TƯ VẤN:Gia đình tôi có 05 anh chị em. Cha tôi có một t...
16/05/2026

Bản ghi âm có được xem là di chúc hợp pháp không?
------

TÌNH HUỐNG TƯ VẤN:

Gia đình tôi có 05 anh chị em. Cha tôi có một thửa đất và căn nhà cấp 4 được tạo lập trước hôn nhân, đứng tên riêng cha tôi. Trước khi mất vào năm 2024, do tuổi cao, sức khỏe yếu và không thể viết tay, cha tôi đã nhiều lần gọi các con lại và nói rõ nguyện vọng để lại toàn bộ căn nhà, đất cho người con út là người trực tiếp chăm sóc cha trong nhiều năm.

Một lần, khi cha tôi nói lại nội dung này, người em út đã dùng điện thoại ghi âm lại toàn bộ lời dặn dò của cha, trong đó cha tôi nêu rõ: “Sau khi cha mất, căn nhà và mảnh đất này để lại cho thằng Út, các con khác không được tranh chấp”. Bản ghi âm này có giọng nói rõ ràng của cha tôi, không bị cắt ghép.

Sau khi cha tôi qua đời, các anh chị em khác không đồng ý, cho rằng bản ghi âm không phải là di chúc hợp pháp và yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật.

Trong trường hợp này, tôi băn khoăn không biết bản ghi âm lời nói của cha tôi có được xem là di chúc hợp pháp hay không, và việc giải quyết di sản thừa kế sẽ được thực hiện như thế nào theo quy định pháp luật. Kính mong Quý Luật sư tư vấn.

Trả lời:

Cảm ơn Quý Khách hàng đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật FDVN (“FDVN”). Đối với yêu cầu tư vấn của Quý Khách hàng, sau khi nghiên cứu tình huống và căn cứ các quy định pháp luật hiện hành, FDVN xin trao đổi như sau:

Theo thông tin Quý Khách cung cấp, trước khi qua đời, cha của Quý Khách có để lại ý chí định đoạt tài sản thông qua lời nói được ghi âm, nhưng không lập di chúc bằng văn bản.

Theo quy định tại Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Di chúc có thể được lập bằng văn bản hoặc di chúc miệng.

Đối với di chúc miệng, pháp luật quy định rất chặt chẽ tại Điều 629 và khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó di chúc miệng được lập khi người lập di chúc miệng đang trong tình trạng tính mạng bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản. Di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất 02 người làm chứng. Ngay sau khi người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng phải ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Trong khi đó, bản ghi âm mà Quý Khách đề cập không phải là hình thức di chúc được pháp luật công nhận độc lập, mà chỉ có thể được xem là chứng cứ chứng minh ý chí của người để lại di sản trong một số trường hợp nhất định theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nếu bản ghi âm không có ít nhất 02 người làm chứng, không được lập thành văn bản và không được công chứng, chứng thực trong thời hạn luật định thì chưa có cơ sở xác định là di chúc miệng hợp pháp. Khi phát sinh tranh chấp, Tòa án sẽ xem xét các tình tiết, diễn biến cụ thể để xác định tính hợp pháp của nội dung ý nguyện người cha để lại.

Trên đây là ý kiến tư vấn của FDVN trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành. Hy vọng nội dung tư vấn này sẽ hỗ trợ Quý Khách hàng giải quyết vụ việc hiệu quả.
Link bài viết dưới phần bình luận
------
Lawyer for foreigners in Vietnam Diễn Đàn Nghề Luật
Email: [email protected]
☎️ Đường dây nóng: 0772 096 999
📣 Website: www.fdvn.vn
hoặc www.fdvnlawfirm.vn
♥️ Fanpage and Group:
https://www.facebook.com/fdvnlawfirm
https://www.facebook.com/lawyersindanang
https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat
https://www.facebook.com/groups/saymengheluat
https://www.facebook.com/groups/legalforeignersinvietnam
🎵 Kênh Youtube: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
🎵 FDVN trên Tik Tok: https://www.tiktok.com/
☎️ Kênh Telegram FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Phá dỡ công trình làm sập, nứt nhà dân: Ai chịu trách nhiệm?------------Vụ phá dỡ công trình tại số 25 Trần Quý Cáp (phư...
15/05/2026

Phá dỡ công trình làm sập, nứt nhà dân: Ai chịu trách nhiệm?
------------
Vụ phá dỡ công trình tại số 25 Trần Quý Cáp (phường Hải Châu, Đà Nẵng) khiến một căn nhà dân sập hoàn toàn, nhiều căn liền kề nứt toác, sụt lún đã làm dấy lên lo ngại về an toàn thi công giữa khu dân cư đông đúc.

Trong khi người dân phải di dời khẩn cấp vì nguy cơ mất an toàn, dư luận đặt câu hỏi trách nhiệm đền bù, bồi thường thiệt hại cũng như trách nhiệm pháp lý là của ai?

Sập một nhà, nhiều căn liền kề nứt toác

Những ngày qua, khu vực xảy ra sự cố nói trên vẫn đang được phong tỏa, tạm dừng việc thi công để phục vụ công tác điều tra của cơ quan chức năng. Một số nhà tiếp giáp với công trình này đã phải khóa cửa và di chuyển chỗ ở.

Trước đó, vào chiều 19-4, chính quyền địa phương tiếp nhận phản ánh của người dân về việc tháo dỡ công trình (do Công ty CP Vinatex Đà Nẵng làm chủ đầu tư, Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Đại Nguyên Nam thi công) ở số 25 Trần Quý Cáp đã làm nhà số 27 Trần Quý Cáp sập hoàn toàn và các nhà từ 29 – 33 bị hư hỏng, nứt tường.

UBND phường Hải Châu cho biết Công an TP đã phối hợp các cơ quan chuyên môn, chủ đầu tư, đơn vị thi công, các hộ dân có liên quan kiểm tra và lập biên bản khám nghiệm ghi nhận hiện trường.

Ngoài ra, cơ quan này cũng cho biết thêm là theo quy định hiện hành không có thủ tục cấp phép tháo dỡ công trình, tuy nhiên chủ đầu tư phải thực hiện phá dỡ theo phương án bảo đảm an toàn.

Cũng theo địa phương này, trước đó (ngày 6-4) UBND phường đã có văn bản nhắc nhở chủ đầu tư về việc che chắn, bảo đảm an toàn trong quá trình thi công…

Trách nhiệm của ai?

Mới đây, lãnh đạo UBND phường Hải Châu đã có buổi tiếp công dân là các hộ dân bị ảnh hưởng bởi vụ phá dỡ công trình nêu trên.

Người dân đề nghị phường tiếp dân giải quyết kiến nghị khẩn cấp do công trình phá dỡ tại 25 Trần Quý Cáp không che chắn, không bố trí dàn giáo chống đỡ bảo vệ những công trình liền kề, đã làm sập một nhà dân và gây sụt lún trụ nhà, xé toạc ngang dọc các căn khác. Việc này ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn tính mạng các hộ dân.

Người dân cũng đề nghị phường xem xét nhanh chóng giải quyết hậu quả do Công ty Vinatex gây ra. Các cơ quan có thẩm quyền phải thông báo công khai lộ trình xử lý trách nhiệm để người dân biết, yên tâm sinh sống.

“Phải đình chỉ thi công cho đến khi hoàn thiện việc đền bù thiệt hại thỏa đáng, khắc phục và hoàn trả nguyên trạng ban đầu trước khi sự cố xảy ra…” – đại diện một hộ dân nêu ý kiến.

Sau buổi làm việc, UBND phường Hải Châu đã kết luận nhiều nội dung, trong đó thống nhất cao việc bảo vệ quyền lợi của người dân. Đề nghị Công ty Vinatex có văn bản trả lời cho các hộ dân đúng thời gian cam kết.

Đồng thời, phường sẽ xử lý nghiêm đối với hành vi gây lún nứt, sụp đổ các công trình lân cận trong quá trình thi công, sau khi có kết quả của cơ quan công an chuyển về địa phương.

Phường cũng đề nghị các cơ quan chuyên môn khẩn trương xử lý và sớm có kết quả để giải quyết nhanh vụ việc; đề đạt nguyện vọng chính đáng của các hộ dân để đảm bảo người dân được yên tâm sinh sống…

Đề cập vấn đề trên, luật sư Trần Văn Hương (Đoàn luật sư TP Đà Nẵng) cho biết theo quy định của Luật Xây dựng, chủ đầu tư phải tiến hành (hoặc thuê tổ chức tư vấn có năng lực) thực hiện lập, thẩm tra thiết kế phương án, giải pháp phá dỡ công trình xây dựng và thực hiện thi công phá dỡ công trình xây dựng; chịu trách nhiệm trước pháp luật, bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Nhà thầu thi công phải có trách nhiệm lập biện pháp thi công phá dỡ công trình phù hợp với phương án, giải pháp phá dỡ được phê duyệt; thực hiện thi công phá dỡ công trình theo đúng biện pháp thi công; theo dõi, quan trắc công trình; bảo đảm an toàn cho con người, tài sản, công trình và các công trình lân cận; chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Theo Bộ luật Dân sự, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình, đơn vị thi công tùy các sai phạm cụ thể, có những hành vi trái luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thì phải có trách nhiệm phải bồi thường các thiệt hại.

Tại điều 589 của luật này, thiệt hại bồi thường được xác định sẽ bao gồm:

Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại; thiệt hại khác do luật quy định. Việc giải quyết bồi thường thiệt hại có thể được các bên thương lượng, thỏa thuận với nhau.

Nếu không thỏa thuận được, người dân có thể khởi kiện ra tòa…

Có thể bị xử lý hình sự

Cũng theo luật sư Hương, việc tổ chức và thi công dẫn đến hư hỏng tài sản của người khác, bên vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm hành chính hoặc thậm chí là hình sự.

Theo nghị định 16, hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình vi phạm quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng gây lún, nứt hoặc hư hỏng công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình lân cận hoặc gây sụp đổ hoặc có nguy cơ gây sụp đổ công trình lân cận nhưng không gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của người khác sẽ đối diện với mức phạt cao nhất là 100 triệu đồng.

Nếu đơn vị thi công để người lao động không tuân thủ biện pháp kỹ thuật an toàn hoặc vi phạm các quy định về sử dụng dụng cụ, phương tiện bảo vệ cá nhân tham gia lao động trong thi công xây dựng công trình hay không lập kế hoạch tổng hợp về an toàn lao động, không lập các biện pháp đảm bảo an toàn chi tiết đối với những công việc có nguy cơ mất an toàn lao động, mức phạt tiền là từ 30 – 50 triệu đồng/một hành vi.

Quá trình thi công mà vi phạm quy định về phương án, giải pháp phá dỡ công trình xây dựng, công ty sẽ chịu mức phạt từ 50 – 70 triệu đồng…

Việc tháo dỡ công trình không đảm bảo an toàn gây thiệt hại đến tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác có thể khiến cho những người có trách nhiệm đối diện với trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp.

Người nào vi phạm quy định về xây dựng khi thi công mà làm chết người (hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên) hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên thì có thể phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng.

Với mức thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đến dưới 500 triệu đồng có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 – 5 năm.

Với mức thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỉ đồng có thể bị phạt tù từ 3 – 10 năm.

Trường hợp gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỉ đồng trở lên có thể bị phạt tù từ 7 – 15 năm.

“Việc điều tra, xem xét nguyên nhân gây thiệt hại, xác định lỗi dẫn đến thiệt hại các công trình lân cận là cơ sở để quy trách nhiệm pháp lý cho các bên có liên quan” – luật sư Hương cho hay.

Link bài báo dưới phần bình luận
------
Lawyer for foreigners in Vietnam Diễn Đàn Nghề Luật
Email: [email protected]
☎️ Đường dây nóng: 0772 096 999
📣 Website: www.fdvn.vn
hoặc www.fdvnlawfirm.vn
♥️ Fanpage and Group:
https://www.facebook.com/fdvnlawfirm
https://www.facebook.com/lawyersindanang
https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat
https://www.facebook.com/groups/saymengheluat
https://www.facebook.com/groups/legalforeignersinvietnam
🎵 Kênh Youtube: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
🎵 FDVN trên Tik Tok: https://www.tiktok.com/
☎️ Kênh Telegram FDVN: https://t.me/luatsufdvn









[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án vì Tòa sơ thẩm chưa giải quyết triệt để vụ án do không xác định rõ mốc giới, ranh gi...
14/05/2026

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án vì Tòa sơ thẩm chưa giải quyết triệt để vụ án do không xác định rõ mốc giới, ranh giới sử dụng đất của hai hộ, khiến các đương sự không xác định được phạm vi sử dụng đất để thi hành án và tranh chấp vẫn tiếp tục tồn tại trên thực tế
--------
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền về loại việc và lãnh thổ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 19/9/2025 Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm; Ngày 29/9/2025 nguyên đơn bà Nguyễn Thị M kháng cáo. Ngày 03/10/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ có quyết định kháng nghị. Đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ và kháng cáo của nguyên đơn.

Thứ nhất, về tố tụng:

Diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 18, có diện tích 817m², được UBND huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Quý H1 đến năm 1993 đã chuyển nhượng một phần cho ông Phạm Văn T. Năm 2003 ông H1 chết, do đó những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là vợ và các con ông H1 được hưởng phần di sản của ông H1 để lại. Việc Tòa án sơ thẩm không đưa các con ông H1 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để lấy ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án là vi phạm Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự và ảnh hưởng đến quyền lợi của họ.

Bản án sơ thẩm kiến nghị loại bỏ diện tích 87m² đất của anh Trần Văn H, chị Phạm Thị T2 ra khỏi GCNQSDĐ của hộ ông Nguyễn Quý H1 nhưng không xác định cơ quan có thẩm quyền là cơ quan nào để đưa cơ quan này tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, dẫn đến xác định thiếu người tham gia tố tụng trong vụ án.

Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và quyết định của bản án sơ thẩm giải quyết 02 nội dung, gồm: Tranh chấp đất đai và tiền đền bù hoa màu giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên, trong đơn khởi kiện nguyên đơn không nêu rõ yêu cầu bị đơn phải trả diện tích đất lấn chiếm là bao nhiêu mét vuông, không nêu rõ số tiền bị đơn phải trả là bao nhiêu. Trong trường hợp này Tòa án sơ thẩm phải yêu cầu nguyên đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại Điều 189 và Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Thẩm phán không yêu cầu nội dung này dẫn đến không xác định được phạm vi nội dung khởi kiện cũng như không tính được án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Thứ hai, về việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ:

Ngay từ đầu việc không làm rõ được yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đã không xác định được phạm vi khởi kiện. Bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm là chưa đủ cơ sở, bởi lẽ:

Chứng cứ do ông Phạm Văn T cung cấp để chứng minh quyền sử dụng đất của mình là Giấy chuyển nhượng đất và hoa màu đề ngày 26/02/1993 (BL20) không thể hiện kích thước chiều rộng, chiều dài và không thể hiện diện tích đất chuyển nhượng là bao nhiêu mét vuông. Trong vụ án này Tòa án phải xác định được mốc giới, ranh giới của thửa đất do ông T đã nhận chuyển nhượng từ ông H1, bà M để làm căn cứ giải quyết vụ án mới phù hợp và đảm bảo đúng pháp luật.

Mặt khác trong hồ sơ có thể hiện bản trích đo do Văn phòng đăng ký đất đai Sở Tài nguyên môi trường tỉnh H thực hiện ngày 06/12/2023 đã xác định diện tích đất chồng lấn giữa 02 hộ là 5,5m². Cấp sơ thẩm đã không xem xét đánh giá diện tích đất chồng lần này là thuộc thửa đất số 69 (hộ ông T) hay thuộc thửa đất số 18 (hộ ông H1) là thiếu sót.

Đây là vụ án tranh chấp đất lấn chiếm, Tòa án phải chỉ ra được ranh giới diện tích đất mà các hộ đang sử dụng là như thế nào để qua đó đánh giá có việc lần chiếm hay không và nếu có lấn chiếm thì là bao nhiêu mét vuông? Bản án sơ thẩm chỉ tuyên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà không chỉ ra được mốc giới ranh giới sử dụng đất của 02 hộ là chưa giải quyết triệt để vụ án, các đương sự không biết mình phải sử dụng đất đến đâu nên sẽ không thể thi hành bản án được và tranh chấp giữa các đương sự vẫn tồn tại trên thực tế.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm đã nhận định “số tiền mà ông T nhận đền bù bao nhiêu trên diện tích mà bà cho rằng ông T đã lấn chiếm bà M cũng không biết”. Nhận định trên là không đúng với diễn biến khách quan của vụ án, thể hiện không đúng quan điểm của nguyên đơn, bởi tại phiên tòa sơ thẩm bà M đã nêu rõ yêu cầu của mình là đề nghị ông T bồi thường 13.800.000 đồng. Cấp sơ thẩm phải xem

xét, đánh giá yêu cầu này có đúng không? Căn cứ vào đâu bà M đòi bồi thường mới đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ và kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở nên được chấp nhận. Cần hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại mới đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự.

Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng đánh giá, xem xét qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, tại cấp sơ thẩm Tòa án đã yêu cầu bà M nêu rõ, cụ thể yêu cầu khởi kiện của mình và đã ban hành văn bản yêu cầu bà Nguyễn Thị M phải cung cấp thông tin về các con là hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Quý H1 nhưng bà M đã từ chối cung cấp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M mới trình bày nêu rõ được quan điểm của mình là yêu cầu ông Phạm Văn T phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 70m², đồng thời cũng cũng cung cấp cho Tòa án thông tin về tên tuổi, địa chỉ của các con bà M và ông H1.

[3] Đối với quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng bà Nguyễn Thị M không có quyền khởi kiện nên phải đình chỉ giải quyết vụ án là không có cơ sở, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ và kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ) và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác được xác định lại khi Tòa án giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 119/2026/DS-PT NGÀY 6/5/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ]

Link bài viết dưới phần bình luận
------
Lawyer for foreigners in Vietnam Diễn Đàn Nghề Luật
Email: [email protected]
☎️ Đường dây nóng: 0772 096 999
📣 Website: www.fdvn.vn
hoặc www.fdvnlawfirm.vn
♥️ Fanpage and Group:
https://www.facebook.com/fdvnlawfirm
https://www.facebook.com/lawyersindanang
https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat
https://www.facebook.com/groups/saymengheluat
https://www.facebook.com/groups/legalforeignersinvietnam
🎵 Kênh Youtube: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
🎵 FDVN trên Tik Tok: https://www.tiktok.com/
☎️ Kênh Telegram FDVN: https://t.me/luatsufdvn









[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án do Tòa sơ thẩm chưa xác định đúng bản chất sự việc ảnh hưởng đến quyền lợi các đương...
13/05/2026

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy án do Tòa sơ thẩm chưa xác định đúng bản chất sự việc ảnh hưởng đến quyền lợi các đương sự; Biên bản lập không rõ ràng vị trí, số đo và không thể thi hành án được
----------
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo:

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10 tháng 10 năm 2024, bị đơn ông Võ Văn T làm Đơn kháng cáo. Xét Đơn kháng cáo của ông Võ Văn T thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 70, Điều 271, Điều 272, Điều 273, Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét, xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông T tháo dỡ mái tole tại tường nhà sau của ông T xây lấn qua đất ông khoảng 0,2m dài 11m và mái tole tại hàng rào phía Nam nhà ông T lấn đất ông khoảng 0,2m dài 4,2m theo biên bản thẩm định xem xét tại chỗ ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang. Phía bị đơn có đơn phản tố yêu cầu ông Võ Văn C di dời hàng rào đã xây dựng về đúng ranh để trả lại diện tích lấn chiếm 40,6m ở thửa 584 và diện tích 10,7m ở thửa 1980 của ông theo sơ đồ bản vẽ ngày 17/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Gò Công Đ1 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 03817 của Ủy ban nhân dân huyện G cấp cho hộ ông T ngày 05/8/2014. Xét thấy, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về ranh đất, đòi quyền sử dụng đất lấn chiếm, yêu cầu tháo dỡ vật kiến trúc trên đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và giải quyết đúng thẩm quyền được pháp luật quy định tại khoản 9, 14 Điều 26; Điều 34; Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.

[3] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa bị đơn ông Võ Văn T có mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Võ Ngọc Kim N có mặt. Nguyên đơn ông Võ Văn C vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan còn lại vắng mặt. Căn cứ khoản 2, 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án.

[4] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận định:

[4.1] Tòa án cấp sơ thẩm có nhận định tại mục [2.1.1] Theo ông T trình bày năm 1994 mẹ là cụ Lê Thị T3 có cho ông phần đất, đến ngày 21/5/1997 ông được Ủy ban nhân dân huyện G cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số thửa 584, tờ bản đồ số 5, diện tích 360m2 giáp với thửa 585 của ông Võ Văn C. Năm 2005 gia đình ông mới về cất nhà tạm ở trên đất này. Đến năm 2009 thì cất kiên cố như hiện nay (bút lục 108). Tại biên bản hòa giải ở xã T ngày 23/9/2020, ông T xác nhận khi làm nhà sau ông xây tường nằm trên đất của ông (bút lục 06). Đến năm 2010 ông C xây tường rào kiên cố. Đến năm 2013 mới có đoàn đo đạc xuống đo để lập bản đồ chính quy theo dự án V (bút lục 28). Theo sổ địa chính điện tử thể hiện thửa 584 của ông T có thửa mới là 255, tờ bản đồ 21, diện tích 320,7m2 (bút lục 82). Theo sổ cấp giấy chứng nhận thì ông T đã ký nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới vào ngày 28/10/2014 (bút lục 512). Từ các chi tiết trên thể hiện ranh đất giữa hai bên ông C, ông T là rõ ràng, Quá trình ông T, ông C xây dựng nhà và tường rào kiên cố là đúng ranh nên không hề có phát sinh tranh chấp trong thời gian dài từ năm 2005 cho đến khi bị kiện vào tháng 9/2020. Từ đó Tòa án cấp sơ thẩm quyết định: Theo kết quả xem xét thực tế tại chỗ ngày 28/8/2024 thì tại thửa 255 giáp thửa 585 có phần mái che tường nhà sau của ông T lấn qua không gian đất ông C 02 tấc, dài 11m; phần mái che vách tường rào ở hướng Nam đất ông T lấn qua không gian đất ông C 02 tấc, dài 4,2m (bút lục 690). Do đó yêu cầu của ông C yêu cầu ông T tháo dỡ phần mái tole này là có căn cứ nên chấp nhận.

Hội đồng xét xử xét thấy, bút lục số 690, cũng đồng thời được cấp sơ thẩm đóng dấu bút lục số 804 có kẻ sơ đồ minh họa mà không phải xác định tọa độ, vị trí, kích thước theo lược đồ giải thửa của cơ quan chuyên môn mà là hình ảnh do cán bộ Tòa án kẻ bằng tay. Trong đó có số liệu chiều dài 11m, không có số liệu thể hiện chiều ngang của phần mái tôn dài bao nhiêu nên sẽ khó khăn trong việc thi hành án nếu căn cứ vào kết quả xem xét thực tế tại chỗ ngày 28/8/2024.

[4.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Võ Văn T cung cấp Vi bằng số: 10/2025/VB-TPL ngày 23/4/2025 của Văn phòng T4, thì thấy: Phần vách tường nhà sau của ông T bị buộc tháo dỡ là vách tường xây kiên cố; từ vách tường đến mái tôn fibro là 10cm. Nếu phải tháo dỡ hoặc cắt đi 2 tấc (20cm) như cấp sơ thẩm tuyên buộc thì tường nhà ông T sẽ bị trống mất một khoảng 10cm. Điều này ảnh hưởng đến kết cấu nhà của ông T và không khả thi trong thực tế.

[4.3] Trong hồ sơ còn thể hiện Trích đo bản đồ địa chính khu đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G lập ngày 17/6/2022 thì phần vách tường phía sau nhà ông T có ghi nhận số đo chiều ngang 0,40, chiều 13,06 (không thể hiện đơn vị số đo) cũng không đúng với kích thước của “kết quả xem xét thực tế tại chỗ ngày 28/8/2024” của Tòa án cấp sơ thẩm nên cũng không thể thi hành án được.

[4.4] Tóm lại, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn ông Võ Văn T phải tháo dỡ mái tôn (hoặc cắt bỏ) phần không gian lấn qua đất ông C ngang 2 tấc, dài 11m là ảnh hưởng đến kết cấu nhà ông T, không xác định được vị trí, kích thước rõ ràng cũng như không thể thi hành án được.

[4.5] Tòa án cấp sơ thẩm nhận định tại mục [2.2.2] như sau: Cả hai phần đất thửa 1980 của ông T và 585 của ông C đều có tăng (ông C tăng 63,7m2; ông T tăng 2,8m2). Trong đó tỷ lệ tăng của ông C là nhiều hơn so với ông T và diện tích tăng của ông T nằm trong sai số cho phép, do đó yêu cầu của ông T đòi ông C trả lại diện tích tranh chấp 10,7m2 ở thửa 1980 là có căn cứ nên chấp nhận. Tuy nhiên, quá trình ông C xây dựng hàng rào kiên cố trên đất phía ông T biết nhưng không hề có sự tranh chấp cho đến khi ông C khởi kiện nên cần được giữ nguyên trạng để đảm bảo sự ổn định và tránh lãng phí khi phải đập bỏ, di dời. Do đó phần diện tích thiếu này cần giao cho ông C tiếp tục sử dụng và phải hoàn lại giá trị bằng tiền theo kết quả định giá cho ông T cụ thể là theo biên bản định giá ngày 06/01/2022. Từ đó chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông T buộc ông C trả lại giá trị phần đất lấn chiếm là 16.585.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo Vi bằng số: 10/2025/VB-TPL ngày 23/4/2025 của Văn phòng Thừa phát lại Gò Công thì phần hàng rào ông C xây bằng gạch, phần chân hàng rào được làm bằng khối bê tông cao 0,4m, đã bám rong rêu; có các hàng cột bê tông; được rào bằng lưới B40 đã cũ, rỉ sét nên việc di dời hàng rào về đúng vị trí ranh giới hai bên đương sự là thực hiện được. Cấp sơ thẩm buộc ông C phải trả giá trị là ảnh hưởng quyền lợi của các đương sự, chưa đảm bảo tính công bằng. Bởi vì, vách nhà phía sau của hộ ông T bằng mái tôn fibro thì buộc cắt bỏ hoặc tháo dỡ; còn hàng rào nhà ông C có khả năng di dời thì ổn định phần lấn ranh này.

[5] Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm quyết định tháo dỡ mái tôn nhà ông T và ổn định phần ranh hàng rào cho ông C là chưa xác định đúng bản chất sự việc ảnh hưởng đến quyền lợi các đương sự; Biên bản lập không rõ ràng vị trí, số đo và không thể thi hành án được. Cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần phải hủy bản án sơ thẩm để giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm xem xét thẩm định lại cụ thể để có quyết định chính xác và khả thi. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn ông Võ Văn T kháng cáo là có căn cứ nên chấp nhận kháng cáo, hủy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm. Khi xét xử lại cần chú ý xác định đơn vị số đo theo quy định phổ thông là mét, dm, cm; tránh sử dụng từ từ địa phương là “tấc” để dễ hiểu và thi hành án.

[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 405/2025/DS-PT NGÀY 29/4/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
Link đính kèm file pdf dưới phần bình luận
------
Lawyer for foreigners in Vietnam Diễn Đàn Nghề Luật
Email: [email protected]
☎️ Đường dây nóng: 0772 096 999
📣 Website: www.fdvn.vn
hoặc www.fdvnlawfirm.vn
♥️ Fanpage and Group:
https://www.facebook.com/fdvnlawfirm
https://www.facebook.com/lawyersindanang
https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat
https://www.facebook.com/groups/saymengheluat
https://www.facebook.com/groups/legalforeignersinvietnam
🎵 Kênh Youtube: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
🎵 FDVN trên Tik Tok: https://www.tiktok.com/
☎️ Kênh Telegram FDVN: https://t.me/luatsufdvn









Address

Tầng 8 Tòa Nhà Bluesea, Số 205B Đường Hoàng Hoa Thám/Phường 6/Quận Bình Thạnh
Xa Phu Rieng

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:30
Tuesday 08:00 - 17:30
Wednesday 08:00 - 17:30
Thursday 08:00 - 17:30
Friday 08:00 - 17:30
Saturday 08:00 - 17:30

Telephone

+84906227369

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư FDVN tại TP Hồ Chí Minh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Luật sư FDVN tại TP Hồ Chí Minh:

Share

Category